TRỌNG CƯỜNG

Tác phẩm văn học & báo chí

Tham nhũng không khó tìm

trongcuong | 23 December, 2011 20:59

               

        Tham nhũng không khó tìm

      Theo báo Dân Việt online:

          "Dư luận bất bình vì EVN đã tự trả lương “cho mình” quá cao, đặc biệt là khối văn phòng, lãnh đạo của tập đoàn. Khối này có lương “khủng” bình quân từ 30 - 40 triệu đồng/người/tháng, lãnh đạo 70 - 80 triệu đồng/người/tháng. Nếu như lấy lương của khối văn phòng ra cộng chung và chia đều trên đầu người thì lương công nhân cao so với các ngành khác, nhưng như vậy là oan cho người lao động, bởi vì họ phải gánh luôn phần lương của lãnh đạo vào phần của mình.

          Những người quản lý, lãnh đạo tài giỏi làm được việc cho dân, cho nước tất nhiên xứng đáng hưởng lương cao. Nhưng xin được hỏi thẳng: Lãnh đạo của EVN có xứng đáng hưởng lương cao hay không?

          Câu trả lời có ngay đây: Số tiền lỗ khủng khiếp của EVN được công bố dù không phải quá bất ngờ nhưng cũng thực sự gây sốc trong dư luận. Kiểm toán Nhà nước xác định EVN lỗ trong sản xuất kinh doanh là 8.400 tỷ đồng, cộng với khoản lỗ do chênh lệch tỷ giá hơn 17.000 tỷ đồng, tính đến hết năm 2010 lỗ trên 25.000 tỷ đồng.

          Tính đến 31-12-2011, nợ phải trả của EVN lên đến 240.000 tỷ đồng. EVN làm ăn thua lỗ trầm trọng như vậy mà cán bộ lãnh đạo, cán bộ văn phòng nhận lương vài chục triệu đến gần 100 triệu đồng/tháng mà không thấy hổ thẹn hay sao?".

            Vậy có thơ rằng:

           Noi gương đạo đức Bác Hồ

           EVN vẫn tung hô tưng bừng.

           Kinh doanh lỗ đến tận cùng

           Các “quan điện” vẫn lương khùng thế a?

           Xin thưa các vị thanh tra:

           "Tham nhũng nào phải đâu xa, khó tìm!".

                                    Trọng Bảo

 

Truyện ngắn THẦY ƠI

trongcuong | 25 November, 2011 21:51

         Nhân dịp Ngày Nhà giáo Việt Nam (20-11), Báo Phú Thọ cuối tuần đã đăng truyện ngắn Thầy ơi. Tác giả chân trọng cảm ơn ban biên tập báo và xin pots lại trên blogs này (Trọng Bảo).
 
Thầy ơi
Truyện ngắn của Trọng Bảo
 
          Trời đã về khuya. Gió bắc thổi mạnh. Cái lạnh nơi biên ải như càng lạnh lẽo hơn trong đêm chiến tranh đầy bom đạn và chết chóc. Tiếng pháo của bọn giặc thỉnh thoảng lại nổ oành oành vọng vào vách đá tạo thành âm thanh man dại nối dài không dứt. Những đốm lửa bùng lên chỗ đầu đạn rơi tạo nên những ánh sáng chập chờn, ma quái.
          Số các chiến sĩ mới được bổ sung về trung đội tôi đã có mặt tập kết ở tràn ruộng phía sau mỏm núi đá. Tôi phải lần đi hết hàng quân để nhận mặt từng chiến sĩ mới. Tôi chợt giật mình ngạc nhiên nhận ra một người trong số tân binh đang đứng trước mặt mình. Tôi khẽ kêu lên:
          - Thầy Thám! Sao thầy lại ở đây?
          - Ơ... - Thầy Thám cũng ngạc nhiên: - Tôi... tôi hiện đang là quân nhân mà!
          - Thầy nhập ngũ từ bao giờ, mà sao lại lên tận đây?
          - Tôi nhập ngũ ngay sau khi có lệnh tổng động viên...
          Tôi chợt hiểu. Gần tháng trời nay khi chiến tranh nổ ra, chúng tôi lăn lộn chiến đấu trong vòng vây hãm của quân thù. Cái sống, cái chết cận kề. Ngày giữ chốt, đêm đi phản kích giành lại điểm tựa hoặc lần mò xuống các bản làng tìm lương thực, lấy nước, thông tin chúng tôi mù mờ chả rõ ràng gì ngoài mệnh lệnh chiến đấu. Trung đội bị tổn thất, cầm cự mãi nhiều khi tưởng không giữ nổi trận địa nữa. Ở tuyến trước chúng tôi không biết ngay sau khi nổ ra chiến tranh đã có lệnh tổng động viên. Nhưng người như thầy Thám được gọi nhập ngũ, huấn luyện sơ sài rồi được đưa ngay lên tuyến trước bổ sung vào các đơn vị chiến đấu đã bị hao hụt quân số. Tôi hỏi:
          - Thầy đã biết sử dụng những loại súng nào?
          - Chỉ biết mỗi súng AK, đã được bắn bài 1, ba viên trúng bia được hai viên, đủ điểm đạt yêu cầu...
          Có tiếng cười khùng khục trong hàng quân.
          - Thôi được rồi! - Tôi nói với thầy và số anh em mới được điều về đơn vị:
          - Các đồng chí yên tâm, anh em chiến sĩ cũ sẽ hướng dẫn thêm cho các đồng chí sử dụng các loại vũ khí trang bị khác, nhất là các loại hỏa lực đơn vị ta được trang bị như cối 60, trung liên, đại liên, B40, B41...
          Sau khi đọc biên chế số anh em chiến sĩ mới về các tiểu đội, tôi gặp lại thầy Thám và dặn:
          - Thầy nhớ phải thật cẩn thận nhé!
          - Trung đội trưởng cứ yên tâm...
          Nghe thầy nói như vậy nhưng tôi vẫn không yên lòng. Nhìn cặp kính cận dày cộp trên mắt thầy tôi cứ thấy lo lo cho thầy. Từ ngày lâm trận rồi tôi mới hiểu, chiến tranh khác hẳn những miêu tả trong những bài thơ ca viết về nó mà thầy từng giảng cho chúng tôi nghe ngày còn đi học.
          Đó là năm cuối cùng tôi học cấp 3. Thầy Thám về trường tôi công tác. Thầy còn rất trẻ, có lẽ chỉ hơn cánh học sinh cuối cấp chúng tôi vài tuổi. Là giáo viên mới ra trường, thầy Thám được phân công dạy các lớp dưới. Nhưng thầy vốn là một học sinh giỏi văn, từng đoạt giải nhì môn văn toàn miền Bắc nên thầy được hiệu trưởng phân công kèm cặp, phụ đạo thêm cho nhóm học sinh giỏi môn văn của khối lớp 10 chúng tôi. Thầy giảng văn rất hay. Thầy sinh hoạt cùng chi đoàn lớp tôi. Giữa tôi và thầy có nhiều kỷ niệm vui buồn. Thầy giúp tôi rất nhiều trong quá trình học tập và tiếp cận với văn học. Nhiều bài văn, bài thơ của tôi được thầy góp ý để sửa chữa, có bài được đăng báo từ ngày ấy. Nhưng cũng có một chuyện buồn nho nhỏ mà tôi thầm oán trách thầy mãi.
           Lần  vào khoảng cuối mùa đông năm 1973. Hôm đó chi đoàn lớp tôi tổ chức lao động lấy tiền mua sách vở giúp các bạn nghèo và mua sổ tay, giấy pơ-luya, tem thư tặng các bạn sắp lên đường nhập ngũ. Chúng tôi tiến hành đào đãi sỏi ở dưới sông Phó Đáy đem lên bán cho công trường khai thác cát sỏi. Thấy việc đãi cát ở giữa dòng sông cạn rất vất vả và năng xuất thấp, tôi và mấy bạn nữa vào sát bờ sông phía bên lở để moi sỏi. Ở những chỗ ấy sỏi nhiều, chả phải đãi lâu mất thời gian, chỉ việc cào sỏi vào rổ sảo khua khua qua nước cho sạch đất là gánh lên bờ. Giữa lúc chúng tôi đang mải mê làm thì thầy Thám hết tiết dạy buổi chiều ra sông tham gia cùng lao động với chúng tôi. Thấy cách mà chúng tôi lấy sỏi thầy hốt hoảng kêu lên:
           - Dừng lại ngay, các bạn khai thác sỏi kiểu này rất nguy hiểm!
           - Không việc gì đâu thầy ơi!
           - Không là thế nào! Cứ moi sâu vào bờ thành một cái hầm ếch như thế này, bờ sông bất ngờ sụp xuống nguy hiểm lắm!
           - Thầy yên tâm! Khi nào bờ sông sắp sập thì nó phải kêu răng rắc chứ, lúc đó chạy vẫn kịp.
           Nhưng đất sập thì làm gì có chuyện kêu "răng rắc" như cây sắp gãy, nhà sắp đổ. Giữa lúc tôi và thầy còn đang tranh luận thì bờ sông sụp xuống thật. Thấy đất vụn đột  nhiên rơi lả tả tôi hét to:
           - Đất sập đấy... chạy... chạy... ngay... 
           Tôi và mấy bạn nữa vội lao ra ngoài hầm ếch khai thác sỏi. Riêng cô bé Lương đang mải mê moi sỏi thì không để ý. Thầy Thám vội lao vào kéo Lương ra khỏi hầm ếch. Một tảng đất to ụp xuống. Lương bị đất đè chẹn ngang người, mặt úp xuống mặt sông cạn. Tôi nhào đến cố nâng đầu Lương lên cho khỏi bị ngạt nước. Trong khi đó thì thầy Thám và các bạn khác ra sức moi đất để lôi cô bé ra khỏi nơi nguy hiểm. Khi chúng tôi đưa được cô bé Lương chạy ra xa thì cả một đoạn bờ sông đổ sập xuống. Thật hú vía. Không ai việc gì nhưng tất cả bị một phen sợ hãi. Buổi lao động phải bỏ dở chừng vì gần như toàn bộ quang gánh, cuốc xẻng đều bị đất sập vùi lấp hết.
          Buổi sinh hoạt chi đoàn sau đó tôi bị thầy Thám phê bình rất gay gắt vì tổ chức cho đoàn viên lao động mất an tòan. Cũng kể từ đó tôi không ưa gì thầy Thám nữa. Khi tôi lên đường nhập ngũ thì thầy cũng được chuyển về trường chuyên của tỉnh. Không ngờ hôm nay tôi gặp lại thầy ở nơi biên giới xa xôi này.
 
*
 
         Nhận chiến sĩ mới bổ sung xong, đơn vị chúng tôi lại tiếp tục lên trấn giữ điểm chốt ngăn chặn quân giặc từ phía biên giới tràn xuống thị trấn Sóc Giang. Tình hình chiến sự ngày càng ác liệt. Trong số chiến sĩ mới bổ sung về đơn vị có người chưa đủ một ngày có tên trong biên chế của trung đội thì đã hy sinh. Thầy Thám qua mấy trận vẫn bình yên. Một lần gặp tôi thầy khoe: "Tôi đã biết cách sử dụng súng M79 và súng chống tăng B41 rồi đấy!". Tôi dặn: "Thầy phải cẩn thận, nhớ lấy đoạn dây dù buộc cặp kính cận đeo vào cổ cho chắc kẻo đạn pháo nổ gần văng mất kính coi như bị mù đấy!". Thầy Thám cười bắt tay tôi rồi rẽ vào một ngách chiến hào. Nhìn theo hút thầy tôi chợt nghĩ: "Sau trận này về thầy mà giảng về văn học chiến tranh sẽ còn hay hơn nữa...".
          Chúng tôi nhận được lệnh bỏ điểm chốt rút lui về phía sau khi mà cả đại đội không thể giữ vững được trận địa trước lực lượng đông đảo và sức tấn công rất mạnh mẽ, ác liệt của bọn giặc. Để rút lui được sang dãy núi bên kia cánh đồng cũng là cả một sự khó khăn. Chúng tôi tổ chức cho một bộ phận đưa anh em thương binh đi trước. Một bộ phận gồm những người khỏe mạnh, nhanh nhẹn sẽ vừa đánh chặn bọn giặc vừa rút lui theo. Gặp thầy Thám tôi bảo:
          - Thầy sẽ đi cùng bộ phận anh em thương binh nhẹ rút sang sườn núi trước!
          Thầy Thám nói ngay:
          - Cho tôi đi với bộ phận khóa đuôi phía sau!
          - Thầy nên đi trước, đi phía sau nguy hiểm lắm...
          - Anh đừng lo cho tôi! Tôi sẽ không sao đâu!
          Tôi định cố khuyên thầy thì chiến sĩ liên lạc của đại đội gọi truyền đạt mệnh lệnh mới.
          Thêm nhiều chiến sĩ nữa hy sinh khi rút lui. Nhưng đơn vị chúng tôi cũng đã vượt qua được cánh đồng bám trụ được vào chân núi đá để chuẩn bị vượt lên núi. Hình như  đã phát hiện ra được việc lui quân của đơn vị chúng tôi bọn địch lập tức tập trung hỏa lực bắn chặn và tổ chức bộ binh đuổi theo. Chúng tôi tổ chức một bộ phận triển khai trận địa ở ngay chân núi đá đánh chặn kìm chân địch cho đơn vị rút lên trên núi cao. Và trong số người ở lại phía sau chặn quân địch ấy có thầy Thám.
          Khi chúng tôi đã rút lên được lưng chừng dãy núi đá khá an tòan rồi thì trận đánh chặn quân giặc truy kích của các chiến sĩ đi sau vẫn diễn ra rất ác liệt. Địch tập trung xe tăng, bộ binh tràn qua cánh đồng áp sát trận địa của những người ở lại. Từ trên núi chúng tôi nhìn rất rõ những người lính không có công sự, họ nằm phơi trên mặt đất, nấp sau những mô đá chiến đấu với kẻ thù đông gấp bội. Trận dánh cuối cùng của họ diễn ra ngay trước mắt những người vừa rút lên núi trước đó. Chúng tôi nhìn thấy những người lính đã bị trúng đạn và hy sinh như thế nào. Nhìn thấy cả người lính bị thương giẫy giụa vì đau đớn. Và cũng chính người lính ấy đã rút chốt quả lựu đạn cuối cùng chết cùng bọn giặc khi chúng ập đến.
          Nghe tiếng súng thưa dần, tiếng reo hò của bọn giặc ầm ĩ chúng tôi biết những đồng đội của mình đã hết đạn và tàn kiệt sức chiến đấu. Khi chuẩn bị rời vị trí để tiếp tục rút lên cao trên dãy núi thì tôi nghe tiếng một chiến sĩ nằm bên cạnh kêu lên:
          - Thầy Thám...
          Tôi vội nhìn xuống chân dốc. Đúng là thầy Thám rồi. Thầy Thám đang bò lết ở phía sau một mô đá. Phía trước mô đá ấy là một chiếc xe tăng và lúc nhúc bộ binh địch đang hò hét tiến vào. Tôi chăm chú theo dõi hành động của thầy. Thầy Thám cố thu người nép vào mô đá để tránh địch phát hiện. Đột nhiên thầy nhổm dậy. Thầy quỳ sau mô đá và đặt khẩu súng chống tăng B41 lên vai. Tôi hốt hoảng thốt lên: "Không được! Không được bắn thầy ơi!". Bởi lẽ đuôi khẩu B41 của thầy đang kề sát vách núi đá dựng đứng. Khi thầy bắn luồng lửa phụt ra ở đuôi khẩu súng chống tăng sẽ không có đường thoát. Với luồng lửa cả ngàn độ bật trở lại thầy sẽ chết cháy trước khi viên đạn bay tới mục tiêu.
          Tôi hét to:
          - Thầy không được bắn!
          Từ trên sườn núi đá cũng có nhiều tiếng kêu lên như thế. Tiếng gào của chúng tôi chìm trong tiếng súng, không biết thầy có nghe được không! Thầy đã biết cách sử dụng súng chống tăng B41 rồi sao lại định bắn trong tư thế ấy. Tôi nín thở nhìn thấy, lòng đầy sợ hãi, lo lắng. Thầy Thám vẫn lặng lẽ chỉnh đường ngắm vào chiếc xe tăng đang chồm tới. Rồi thầy đưa tay lau mặt và sửa lại cặp kính cận.
          Một vầng lửa bùng lên ở khe núi trước khi một vầng lửa khác bùng lên trên chiếc xe tăng quân giặc. Thầy Thám đã bắn quả đạn B41 trong tư thế ấy. Thầy đã hy sinh trước khi nhìn thấy mục tiêu bị tiêu diệt. Chắc chắn thầy đã hiểu điều này trước khi bình tĩnh xiết cò.
          Nhìn quầng lửa vẫn còn đang bùng lên nơi thầy vừa bắn quả đạn B41, tôi bật lên tiếng gọi: "Thầy ơi!".
                                 
                                                                                   Ngày 20/11/2009
  

Truyện ngắn đăng Báo Người Hà Nội

trongcuong | 01 November, 2011 16:04

Báo Người Hà Nội trong các số 42 (14/10/2011) và số 44 (28/10/2011) đã đăng trên trang nhất các truyện ngắn NHỚ RỪNG và truyện ngắn LÃO VÕ của Trọng Bảo. Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Biên tập báo và giới thiệu lại truyện ngắn LÃO VÕ trên blogs này.

        

        LÃO VÕ

        Truyện ngắn của Trọng Bảo

          Sau chiến tranh lão Võ về phục viên. Mười bảy năm bộ đội mà lúc ra quân lão chỉ có mỗi một cái ba lô rách và hai bộ quần áo cũ. Những kỷ vật quý giá nhất lão đem về ngày ấy là con dao găm nhãn hiệu “made in USA”, cái hăng-gô nhãn hiệu “made in China” và một cái ca sắt tây tráng men có ghi dòng chữ “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.

           Về làng, lão cũng chẳng còn người thân. Căn nhà gỗ xoan cũng đã cũ nát, sập xệ lắm rồi. Bà mẹ chết khi lão còn đang ở mặt trận. Căn nhà không có người trông coi nên càng nhanh xuống cấp. Lũ trẻ con biến nhà lão thành nơi tụ tập để chơi đùa, đánh trận giả. Có đứa láo lếu còn phóng uế ngay giữa sân.

           Lão dọn dẹp lại căn nhà hoang. Làm đơn mấy bận, lão mới được ban quản trị hợp tác xã phê duyệt bán cho hai trăm tàu lá cọ và ba trăm viên gạch để sửa nhà. Lá cọ dùng dọi lại mái nhà còn gạch để lát chỗ nền bị bong tróc. Sửa chữa xong nhà cửa lão tính chuyện làm ăn. Phục viên về quê không nghề ngỗng gì nên lão phải khá chật vật lo kiếm miếng cơm hàng ngày. Sau chiến tranh cả nước đều đói. Có bữa lão ăn toàn sắn. Những củ sắn đắng ngắt có bữa làm lão ngộ độc say lử. Mãi vẫn không thấy lão lấy vợ. Thằng Bông láo lếu nhất làng thì bô bô:

           - Hình như lão Võ bị mảnh đạn bay trúng làm cụt mất cái ấy rồi nên không dám cưới vợ!

           Ông Bân trưởng thôn mắng nó:

           - Mày đừng có mà nói bậy!

           - Thì đấy… lão ấy coi ao cá giống suốt ngày lội nước mà lúc nào cũng thấy lão đánh bộ quần áo dài, có dám mặc quần đùi, áo lót bao giờ đâu!

            Khi xóa bỏ bao cấp, làng xã giàu dần lên. Người ta bắt đầu kiến thiết, xây dựng nhà cửa. Đường xá mở rộng, các công trình công cộng, dân sinh được đầu tư. Căn nhà và mảnh vườn của lão Võ nằm trúng vị trí quy hoạch xây dựng nhà truyền thống của xã. Nhà lão bị giải tỏa. Xã cấp cho lão một rẻo đất xa hút, gần khu nghĩa địa của làng. Ông Bân trưởng thôn huy động dân quân và bà con trong làng giúp lão di chuyển ra nơi ở mới. Mấy thằng thanh niên vừa khênh kèo cột vừa cợt nhả:

           - Lão Võ này thế mà khôn thật! Lão chuyển nhà ra gần nơi “yên giấc ngàn thu” cho tiện sau này đỡ phải đi xa… 

            Nhà truyền thống xây dựng xong. Lão cũng được mời dự lễ khánh thành vì là cựu chiến binh chống Mỹ. Lão còn được mời lên đứng ở đầu hàng vì lão là người có tuổi quân lâu nhất. Lão đứng co ro phía trước khối cựu chiến binh. Lúc cắt băng khánh thành có một ông trung tướng trông rất bệ vệ cứ chăm chú nhìn lão mãi. Ông này từ tận Hà Nội về dự lễ. Pháo giấy nổ bôm bốp. Những mảnh giấy nhiều màu rơi xuống lả tả. Lão Võ đang định chuồn ngay về để xem cái ao cá đêm qua mưa to có bị sạt bờ không thì ông tướng kéo anh chủ tịch xã đến chỗ lão. Vị tướng già nắm tay lão hỏi:

            - Ông không nhận ra tôi à?

            - Ơ... ơ...

            Lão ú ớ. Ông tướng giới thiệu với mọi người:

            - Ông Võ cùng đơn vị với tôi! Ông ấy chiến đấu dũng cảm lắm. Hôm đưa tôi bị thương về tuyến sau gặp địch phục kích còn vật nhau với một thằng Mỹ, cướp được dao găm của nó, giết chết nó. Sau đó, ông ấy còn bị bom na-pan cháy hết người, may mà vẫn còn sống...

            Vị tướng lật cổ cái áo bộ đội cũ của lão Võ ra. Vai lão cháy đen, nham nhở, sần sùi. Thảo nào mà chả ai nhìn thấy lão cởi trần bao giờ. Vị tướng còn thở dài khe khẽ nói: “Ông ấy còn bị nhiễm chất độc da cam rất nặng nữa...”. Ông tướng kéo lão Võ và anh chủ tịch xã cùng vào xem nhà truyền thống. Hiện vật trưng bày chỉ có vài thứ lèo tèo. Hai khẩu súng CKC cũ kỹ, mấy thanh mã tấu sét gỉ. Một đôi thùng gánh nước được ghi là của các bà mẹ trong xã gánh nước uống lên trận địa phòng không, một ít giẻ rách của các cháu thiếu nhi tặng bộ đội lau pháo. Chỉ có trên tường là la liệt các loại giấy khen, bằng khen chủ yếu là của những năm gần đây. Vị tướng già chợt hỏi lão Võ:

           - Ông có còn giữ được con dao găm của thằng Mỹ không?

           - Còn...

           - Thế thì ông nên tặng lại cho nhà truyền thống của xã!

           - Vâng... vâng...

           Vị tướng cùng anh chủ tịch xã và mấy người theo lão Võ về nhà. Lão lôi từ trong gầm giường cái ba lô cũ. Lão lấy ra con dao găm “made in USA”, cái hăng-gô “made in China”, cái ca sắt tráng men “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” đặt lên bàn. Lão mở cái hăng-gô đổ ra một đống huân huy chương các loại. Lão đồng ý tặng cho nhà truyền thống của xã ba thứ kỷ vật mà lão quý nhất. Anh chủ tịch hứa là “sẽ gìn giữ thật cẩn thận những hiện vật quý này để giáo dục truyền thống thế hệ trẻ”. Thằng Bông nghe thấy thế liền bữu môi nói với bọn thanh niên:

            - Lão Võ chiến tích đầy mình, đúng là một nhân chứng sống! Vậy mà chả ai thèm quan tâm, họ chỉ quan tâm đến mấy thứ hiện vật vô tri vô giác ấy thôi!

            Một thằng vẻ cũng lấc cấc thì bảo :

            - Hiện vật đem về cho vào tủ kính khóa lại là xong! Còn lão ấy sống nhăn răng mỗi năm chén hết cả hơn tạ gạo, rồi rau dưa, thịt cá, hút hết mấy cân thuốc lào, lại ốm đau liên tục. Lấy lão ấy làm hiện vật, nhân chứng sống thì bố ai mà chăm lo cho được...

            - Ừ phải... Bọn mình đi đá bóng thôi!

            Đám thanh niên ồn ào kéo nhau đi mất. Trong ngôi nhà cũ kỹ vừa mới dựng lại chỉ còn vị tướng già, lão Võ và anh chủ tịch xã.

                                                                                      Hà Nội, 28/4/2011

 

Truyện ngắn Chim lợn kêu ngang trời

trongcuong | 29 September, 2011 09:38

              

     

         Chim lợn kêu ngang trời

           Truyện ngắn Trọng Bảo

          Trời bắt đầu trở lạnh. Đã cuối mùa thu. Sương muối rơi lộp bộp trên mái nhà lợp bằng lá cọ. Bà Chiều vừa thiu thiu ngủ bỗng giật mình nghe tiếng kêu của con chim lợn đi ăn đêm. Tiếng nó “eng éc” nghe lạnh cả người. Nó bắt đầu kêu từ khu nghĩa địa bên kia cánh đồng. Bay ngang qua làng Trung tiếng nó có vẻ thảm thiết hơn. Người ta bảo khi nó kêu là lúc đã ăn no rồi đang bay về tổ.

           Nhưng chim lợn kêu nhiều thường là có người sắp lìa cõi trần.

           Tiếng chim lợn kêu ngang trời như gọi hồn người chết thăng thiên. “Chết thôi! Ông Túc đang ốm. Con chim hôm nay sao mà kêu ghê thế… hay là…”. Bà Chiều nghĩ vậy. Bà trở mình, giát giường kêu cót két. Bà ngồi dậy quờ chân tìm dép. Không bật điện, bà lập cập vặn to ngọn đèn dầu hạt đỗ đặt trên bàn thờ. Bà vừa rút một nén hương chưa kịp châm thì nghe thấy tiếng người ồn ào rộ lên ở phía cuối làng. Bà thở dài: “Thôi ông ra đi cho mát mẻ!”. Giọt nước mắt ứa ra trên gò má nhăn nheo của bà.

          Bà Chiều lay thằng cháu ngoại đang nằm ngủ ở giường bên cạnh. Nó cáu cẳn:

          - Bà làm gì thế! Cháu vừa mới ngủ được một lát bà đã gọi…

          - Mày đưa bà xuống nhà ông Túc ngay.

          - Đang đêm bà xuống nhà lão ấy làm gì?

          - Hình như… ông… ấy…

          - Lão ấy đang ốm nặng… đã nghẻo rồi hả bà…

          - Vả vào cái mồm mày! Ăn với nói… dậy đi!

          Thằng cháu uể oải ngồi dậy. Nó bật điện tìm cây đèn sạc. Bà Chiều cũng đã tìm được cây gậy.

          Thằng cháu soi đèn đưa bà ngoại đến cổng nhà lão Túc. Trong nhà đèn điện sáng choang, tiếng người ồn ào. Đúng là ông ấy đã đi rồi. Từ ngoài cổng thằng cháu thính tai đã nghe rõ mọi chuyện. Nó bảo bà:

          - Lão ấy nghẻo… À...à… - Nó vội lấp liếm: - Ông Túc chết rồi bà ạ! Bà vào nhà ông ấy nhé. Cháu về ngủ tiếp đây. Mai cháu sẽ đi đào huyệt…

          Nói xong nó để bà đi vào nhà lão Túc rồi quay về ngủ tiếp.

          Bà Chiều che mắt cho khỏi chói ánh điện bước vào sân. Một phụ nữ nhìn thấy chạy ra dắt tay bà vào nhà. Lão Túc đang được mấy người mặc cho bộ quần áo mới để khâm liệm. Cái quan tài sơn đỏ loè loẹt lão chuẩn bị sẵn đã được kê ra gian giữa.

          Bà Chiều nhìn mặt lão Túc lần cuối trước khi người ta gấp tấm vải xô lại để buộc dây bó kín thi thể. Trong đầu bà chuyện về lão Túc như chợt hiện về từng đoạn, từng đoạn, rất rành mạch.

          Đó là những ngày tiền khởi nghĩa. Thanh niên, phụ nữ làng Trung hào hứng, phấn khởi nghe lời kêu gọi của cán bộ Việt Minh chặt tre làm gậy gộc, cắm dao vào cán gỗ làm giáo sẵn sàng vùng lên giành chính quyền. Lão Túc  hồi ấy là những người hăng hái nhất. Lão Túc là dân bần cố nông, làm thuê, cuốc mướn. Được giác ngộ, lão càng thêm nhiệt tình hoạt động. Lão là người đã vác mã tấu đi sát anh cán bộ Việt Minh dẫn đầu đoàn người biểu tình xông vào toà công sứ Pháp ở trên tỉnh cướp chính quyền. Trong kháng chiến, lão là đội viên đội công an xung phong của xã chuyên diệt tề, trừ gian. Một mình lão ban ngày ban mặt dám áp sát tên Việt gian chỉ điểm giữa chợ xỉa vào sườn nó một nhát dao khiến nó ngã xuống giữa đám lính dõng hoảng loạn.

 (Xem tiếp)

Truyện ngắn Chuồn chuồn bay thấp

trongcuong | 08 September, 2011 18:06

 

Chuồn chuồn bay thấp

Truyện ngắn

           Cái My đứng tựa cửa nhìn ra sân. Những con chuồn chuồn đang bay rất thấp. Vậy là trời sắp mưa. Cái My chợt nhớ tới bà nội và mẹ. Khi còn sống bà hay bảo: "Chuồn chuồn bay thấp thì mưa". Bà gọi bé My vào nhà ngay kẻo mưa ướt dễ bị cảm. Năm My lên sáu tuổi thì bà mất. Nó còn nhớ bữa theo mẹ ra thăm mộ bà trời âm u, chuồn chuồn bay rất thấp. Mẹ vẫn cứ lúi húi vun đất đắp mộ cho bà, My phải nhắc mẹ. Hai mẹ con vội vã thắp hương cho bà rồi về thế mà dọc đường vẫn bị mưa ướt. My càng không quên hôm ra đắp mộ cho mẹ chuồn chuồn cũng bay thấp nhưng nó không về. Mặc cho mưa rơi ướt sũng cả người My vẫn ngồi bên cạnh mộ mẹ không muốn về. 

            

          Mẹ nó mất do tai nạn giao thông. Chiều hôm đó bố đèo mẹ lên thị trấn để vay tiền sửa nhà lúc về thì gặp mưa. Bố vội phóng xe vội vã chạy tránh mưa nên va phải phía sau một chiếc xe tải. Mẹ nó văng ra đập đầu xuống mặt đường. Vào đến bệnh viện thì mẹ mất. Bố bị thương nặng phải điểu trị mấy tháng liền mới khỏi.

  Gần hai năm sau, bố lấy dì Tân. Ban đầu dì đối xử với My cũng không có gì ghê gớm lắm. Nhưng từ khi sinh cu Bi thì dì chẳng bao giờ còn ngó ngàng đến cái My nữa. Dì chỉ chú ý đến nó khi cần nó bế cu Bi. Dì không cho My đi học thêm để còn ở nhà chăm sóc cu Bi lại đỡ tốn tiền học. Bố cũng không phản đối. Từ ngày bị ngã xe bố cũng ốm yếu luôn nên chả dám quyết điều gì. Nhất nhất mọi việc bố đều nghe theo sự sắp đặt của dì.

 (Xem tiếp)

Diễn biến vây bắt sát thủ Lê Văn Luyện

trongcuong | 31 August, 2011 22:29

       

          Sát thủ Lê Văn Luyện tại Đồn Biên phòng Na Hình

 

         Tóm tắt diễn biến vây bắt sát thủ Lê Văn Luyện

      

           Chiều tối ngày 31-8, Thượng tá Nguyễn Năng Nhạ, đồn trưởng đồn biên phòng Na Hình, Lạng Sơn, cung cấp những thông tin mới nhất cũng như diễn biến cuộc vây ráp tên sát nhân máu lạnh Lê Văn Luyện. Theo Thượng tá Nguyễn Năng Nhạ, đồn trưởng đồn biên phòng Na Hình, huyện Văn Lãng, Lạng Sơn, trong mấy ngày gần đây, lực lượng công an của Bộ Công an và bộ đội biên phòng đã tích cực triển khai rất nhiều hướng truy lùng khác nhau. “Từ thông tin điều tra ban đầu, chúng tôi được biết Luyện đã trốn lên nhà cô ruột tại bản Nà Tổng, xã Trùng Khánh, thuộc khu vực quản lý của đồn Biên phòng Na Hình. Ngày hôm qua, 30-8, chúng tôi có thông tin đối tượng trốn sang Trung Quốc. Và đến hôm nay (31-8), qua các biện pháp nghiệp vụ, chúng tôi đã nắm được thông tin: Lê Văn Nghi là chồng của cô ruột Luyện. Tiếp đó chúng tôi có được thông tin rằng trong ngày 31-8, Lê Văn Nghi xuất cảnh qua biên giới. Chúng tôi đã áp sát đối tượng và khi được hỏi, Nghi cho biết sang Trung Quốc lấy phân về làm ruộng. Đây là mối nghi ngờ đầu tiên”, Thượng tá Nhạ kể lại.

            Thượng tá Nhạ cho biết thêm: “Chúng tôi nhận định khả năng đối tượng Luyện do lần đầu sang Trung Quốc nên cần phải có người giúp đỡ. Và đối tượng Nghi có thể là người “tiếp tay” cho Luyện. Trước nghi vấn trên, đồn Biên phòng Na Hình đã nhanh chóng triển khai ba mũi truy lùng lớn, chặn tất cả các con đường mà đối tượng có thể về Việt Nam”.

            “Vào đúng 16 giờ chiều nay (31-8), đối tượng Lê Văn Luyện đã cùng với Hoàng Văn Trai- được nhận định chính là đối tượng hôm 29-8 đưa Luyện sang Trung Quốc, đang âm thầm từ Trung Quốc trở về Việt Nam. Ngay lập tức lực lượng biên phòng đã tổ chức bắt cả 3 đối tượng này ngay khi đang trên đường về Việt Nam. Khi bị bắt, Luyện không có biểu hiện chống đối, thái độ bình thường, vì cũng không còn đường trốn. Tình trạng sức khoẻ của Luyện cũng khá tốt.” Đối tượng đã được di lý về Bắc Giang sau khi công an tìm kiếm số vàng Luyện giấu tại Văn Lãng.

                                                                                                 TQ

Bài giới thiệu sách đăng báo Văn nghệ

trongcuong | 25 August, 2011 09:10

   

     Bài đăng Báo Văn nghệ số 30 (Ngày 30-7-2001)   

       

THÂN PHẬN CON NGƯỜI TRONG "ĐỒNG TIỀN LÁ ĐA"


           Mỗi lần về quê ngoại, đi bên dòng sông Phó Đáy, qua những xóm làng trung du vùng Lập Thạch-Vĩnh Phúc, tôi lại nghĩ về những thân phận con người, ngỡ như được gặp những ông Thống, bà Cần, bà Miên, lão Vận, bác Đống, dì Vân, anh  Nhân, chị Thân, chị Xuyến... Đấy là những nhân vật đã ám ảnh tôi khi đọc xong tập truyện ngắn "Đồng tiền lá đa" của Trọng Bảo do NXB Quân đội nhân dân ấn hành năm 2008.

           19 truyện ngắn trong "Đồng tiền lá đa" phản ánh đa chiều những vấn đề xã hội, từ trong lịch sử đến đời sống hiện tại. Ở đó có sự phát triển, đổi thay của làng quê nhờ công cuộc đổi mới đất nước, có những mặt tiêu cực do tác động của nền kinh tế thị trường, có tệ nạn xã hội và những con người man trá, xảo quyệt, lọc lừa... Nhưng chủ đề xuyên suốt trong "Đồng tiền lá đa" là những thân phận con người sau chiến tranh, những người đã chịu đựng đau thương, mất mát trong những cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Dễ hiểu trong "Đồng tiền lá đa" chiếm đa số truyện viết về chiến tranh và người lính, bởi tác giả tên thật là Hà Trọng Bảo, hiện là Đại tá, Trưởng phòng Thông tấn quân sự thuộc Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

           Nhà văn quân đội Bùi Thanh Minh sau khi đọc "Đồng tiền lá đa" nhận xét: "Tập truyện vẫn đi theo mạch văn viết về những mảnh đời, thân phận con người sau chiến tranh... Những tấm huân chương rồi cũng sẽ phai màu, mồ liệt sĩ trong nghĩa trang chìm dần vào trong cỏ. Nhưng chiến tranh thì vẫn cứ hiện hữu hàng ngày trong những con người đã từng tham chiến hay có mặt trong thời điểm ấy. Dù họ trở về từ chiến trường hoặc ở hậu phương...". Với Trọng Bảo, anh phản ánh sự tàn khốc của chiến tranh thông qua những câu chuyện không phải trực tiếp có tiếng bom rơi, đạn nổ. Đấy là những nỗi đau dằn vặt trong lòng ông Thống, chỉ vì kỷ luật quân đội, kỷ luật chiến đấu mà Đại-một chiến sĩ bộ đội chủ lực và cô Thắm, người yêu của anh bị địch giết chết. Từ đó ông Thống trở nên lầm lì, ít nói, chôn chặt nỗi đau trong lòng, chỉ đến ngày tết, thanh minh đi tảo mộ, ông mới lầm rầm tâm sự trong lời khấn người đã khuất. Nhưng ông cũng kiên quyết không ký xác nhận công nhận liệt sĩ cho Đại, bởi theo ông, Đại chết là do vô kỷ luật. (truyện ngắn Thanh Minh). Sự khốc liệt của chiến tranh hiện hữu trong một ngõ nhỏ của làng Vũ, thôn Đoài, nơi hai người đàn bà là bà Miên và bà Cần cùng có con trai nhập ngũ trong kháng chiến chống Mỹ và cả hai cùng hy sinh. Bà Cần được phong tặng danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam anh hùng", được chính quyền, làng xóm quan tâm chăm sóc, trong khi bà Miên phải chịu muôn vàn tủi nhục khi bị mang tiếng là con trai phản quốc. Thêm nữa, có người con trai cả cũng từ mẹ và gia đình có người phản bội để không ảnh hưởng đến con đường tiến thân. Mãi sau này, khi bà Miên được "giải oan", đón nhận bằng Tổ quốc ghi công cho con trai hy sinh vì Tổ quốc trong khi được quân đội phân công làm nhiệm vụ đặc biệt. Là mẹ liệt sĩ, nhưng bà Miên vẫn sống lặng lẽ giữa xóm làng, nỗi đau oan ức được rũ bỏ, nhưng nỗi đau chiến tranh có lúc nào nguôi ngoai. (truyện ngắn Ngõ nhỏ). 

 (Xem tiếp)

LÃO DỞ NGƯỜI - truyện ngắn

trongcuong | 15 August, 2011 16:33

         

          LÃO DỞ NGƯỜI

         Truyện ngắn 

          Lão dở người vác cái bao tải rách lên vai. Hôm nay lão gặp may. Một ngôi nhà là trụ sở công ty tư nhân đang đục phá, sửa chữa. Đám thợ vứt ra hè đường một đống sắt vụn cong queo. Ông chủ công ty nhìn thấy lão đang móc tìm kiếm ở cái thùng rác bên đường liền gọi sang và hào phóng cho lão luôn đống sắt vụn. Chỗ sắt vụn đầy sét gỉ phải đến hai chục cân. Lão oằn lưng vác cái bao tải nặng ra phía bờ sông. Số sắt vụn này lão kiếm được hơn trăm ngàn là cái chắc.

          Cân xong bao tải sắt vụn, lão dở người lại vào phố. Con mụ Béo chuyên thu mua đồ phế liệu chê ỏng chê eo sắt gỉ quá chỉ đưa cho lão một trăm hai mươi ngàn đồng. Thôi thế cũng tốt. Lão nghĩ. Lão sẽ vào phố chén một bát phở ngon hết hai mươi ngàn đồng. Còn một trăm ngàn lão sẽ cất kỹ dành dụm thành một khoản để đem về quê. Ở quê, lão còn một thằng cháu là con cô em gái út. Nó ốm yếu thường xuyên phải đi viện. Lão thương nó lắm. Lão ra thành phố bới rác kiếm tiền, dành dụm từng trăm gửi về giúp em gái chữa bệnh cho cháu. Hôm lão đi, thằng bé cứ túm lấy áo lão rơm rớm nước mắt:

         - Bác đi Tết nhớ về với cháu nhé!

         - Ừ! - Lão xoa đầu nó và dặn: - Ở nhà cu nhớ không được ra bờ ao chơi, nhỡ ngã xuống ao thì khốn đấy!

         Thằng bé bị bệnh tim. Một hôm lão vừa đi bắt cua về xuống cái ao đầu ngõ rửa chân thì thấy thằng cháu đang ngớp ngớp vùng vẫy ở dưới cầu ao. Lão vứt cả giỏ cua nhào xuống ao lôi nó lên. May mà nó mới ngã xuống chỉ uống vài ngụm nước. Bệnh tim của nó nặng dần. Năm lên lớp bốn thì hay bị ngã ngất nên không tiếp tục đi học được nữa. Nghe nói muốn mổ tim phải mất hàng chục triệu đồng. Chồng cô em gái út tai nạn sập lò gạch chết sớm, nhà nghèo lấy đâu ra mấy chục triệu đồng để chữa bệnh cho con. Tiền mua thuốc hàng tháng còn chả đủ nữa là. Lão nghe người ta nói thành phố dễ kiếm tiền. Thế là lão bỏ sào ruộng lại cho cô em gái út rồi theo đám thanh niên lên thành phố. Lão sẽ kiếm tiền, thật nhiều tiền giúp cô em út.

          Lên đến thành phố lão ra ngay chỗ "chợ người" tìm việc. Nhưng những người tìm thuê "cửu vạn" thường chẳng bao giờ để ý đến lão. Có lẽ họ nghĩ là lão già cả chả làm nổi những việc nặng nhọc. Thế nên lão đành phải đi bới rác, nhặt nhạnh những đồ phế thải bán cho bọn thu mua sắt vụn. Nhặt những bao túi ni-lông, vỏ bia, vỏ chai, sắt vụn người ta vứt đi bán cho bọn ve chai mỗi ngày lão cũng kiếm được ngày nhiều ba chục, ngày ít hai chục, ăn uống rồi cũng để dành được chục ngàn mỗi ngày, hơn cả làm ruộng ở quê mỗi vụ được vài tạ thóc ăn chả đủ làm gì dám đem bán lấy tiền.

          Bọn trẻ con, phụ nữ chuyên làm nghề nhặt rác thường tụ tập ngoài bãi sông Hồng. Họ gọi lão là lão dở người vì một chuyện xảy ra đối với lão. Hôm đó lão bới móc một cái túi rác cổng một ngôi biệt thự. Lão tìm thấy trong cái túi rác đầy vỏ hộp mỹ phẩm ấy một cái dây chuyền vàng. Lão cầm sợi dây chuyền đứng co ro chịu rét chờ bằng được bà chủ ngôi biệt thự ra đóng cổng để trả lại. Nhận lại sợi dây chuyền đến năm chỉ bà chủ nhà chả cảm ơn thì thôi còn xỉa xói, nghi lão là quân trộm cắp. Biết chuyện, đám "công nhân nhặt rác" cư trú ngoài bãi sông đều cười nhạo lão mãi. Chả ai khen lão thật thà mà họ bảo lão là đồ dở người. Từ đó cái tên lão Dở thành tên gọi của lão.

          Lão Dở cũng có người con khá thành đạt. Đó là ông con trai duy nhất của lão. Vợ lão mất sớm, lão ở vậy nuôi con khôn lớn. Thằng con lão là chủ một doanh nghiệp lớn ở phía Nam. Ông con trai muốn đón lão vào Nam sinh sống nhưng lão không chịu. Lão giận con, nhất là từ khi ông con về quê đóng góp cả mấy trăm triệu đồng cho một công trình văn hoá của huyện để được tạc tên trên bia đá ghi công thế mà không dám cho thằng cháu bị bệnh nặng được lấy một đồng để chữa bệnh. Lão có ý nhắc nhưng nó làm thinh không nói gì.

          Ăn xong bát phở, lão Dở tìm về chỗ mình vẫn ngủ qua đêm.

          Năm nay trời sao mà rét đến thế. Các hàng quán đóng cửa nghỉ sớm. Gió lạnh thổi ù ù trên phố. Lão Dở lủi thủi đi về phía làng ven Hồ Tây. Mấy ngày nay lão không ra khu nhà trọ ngoài bãi sông nữa. Trọ ở nhà trọ bãi sông mất năm ngàn mỗi tối. Trước đây chỉ có ba ngàn một tối nhưng gần tết họ nâng giá lên năm ngàn đồng. Nói là nhà trọ thực ra chỉ có vài manh chiếu rách trải lên sạp, cả chục, cả trăm người-toàn dân cửu vạn chen chúc nhau nằm lăn lóc đầu chân lẫn lộn ngủ cho qua đêm. Mà có nhiều người chưa đến nửa đêm đã lồm cồm bò dậy đi gánh hàng thuê cho những người buôn hoa quả, rau ở các chợ đêm. Lão Dở ít ngủ và thính ngủ. Có khi đêm vừa chợp mắt được một lát đã giật mình vì tiếng lục sục gọi nhau của những người đi làm đêm. Vì thế lão chả dại gì mà mất thêm năm ngàn đồng mỗi đêm. Lão đã có một cách hay.

 (Xem tiếp)

Kỷ niệm Nhà văn anh hùng Chu Cẩm Phong

trongcuong | 12 May, 2011 18:59

             

Kỷ niệm 40 năm Nhà văn anh hùng Chu Cẩm Phong hy sinh (1971-2011)       

          Sáng ngày 12-5, tại trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam (Số 9-Nguyễn Đình Chiểu-Hà Nội), Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 40 năm Nhà văn anh hùng Chu Cẩm Phong hy sinh (1971-2011). Tới dự buổi lễ có Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, đại diện Ban Tuyên giáo trung ương, Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam, đại diện gia đình và đông đảo các nhà giáo, nhà văn, nhà thơ từng sống, chiến đấu với nhà văn Chu Cẩm Phong và giảng viên, sinh viên khoa sáng tác, lý luận phê bình văn học Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.

          Tại lễ kỷ niệm, sau khi thắp hương, tưởng niệm nhà văn Chu Cẩm Phong, nhà thơ Quang Thiều, Phó chủ tịch BCH Hội Nhà văn Việt Nam đọc lời khai mạc; các nhà văn, nhà thơ, nhà giáo như: Nguyễn Chí Trung, Hữu Thỉnh, Ngô Thảo, Thái Bá Lợi, Bùi Minh Quốc, Ngô Thế Oanh, Nguyễn Sỹ Tuyển (giáo viên chủ nhiệm lớp 7 của Chu Cẩm Phong)... đã phát biểu ý kiến ôn lại cuộc đời, gương chiến đấu hy sinh dũng cảm và sự nghiệp văn chương của nhà văn, anh hùng liệt sĩ Chu Cầm Phong. Kết luận buổi hội thảo tại lễ kỷ niệm, nhà thơ Hữu Thỉnh đã nhấn mạnh: “Qua những ký ức các nhà văn, các đại biểu đã mà phác thảo thật sinh động một chân dung tinh thần của một thế hệ các nhà văn cầm bút chiến đấu”.

           Nhà văn Chu Cẩm Phong tên thật là Trần Tiến sinh năm 1941 tại Hội An, Quảng Nam. Năm 1954, Chu Cẩm Phong theo cha tập kết ra miền Bắc, học phổ thông tại các trường học sinh miền Nam, là sinh viên khoa ngữ văn Trường Đại học tổng hợp Hà Nội. Tốt nghiệp đại học, anh được chọn đi nghiên cứu sinh ở nước ngoài, nhưng cuối năm 1964, Chu Cẩm Phong đã xin về miền Nam trực tiếp cầm súng chiến đấu góp phần giải phóng quê hương. Thời gian đầu vào chiến trường anh là phóng viên của TTXVN sau đó chuyển sang làm phóng viên, biên tập viên Tạp chí Văn nghệ giải phóng Trung Trung Bộ (Khu 5), bí thư chi bộ tiểu ban văn nghệ Ban tuyên huấn Khu 5. Ngày 1-5-1971, trong một trận đánh không cân sức với quân thù, Chu Cẩm Phong cùng bốn chiến sĩ khác đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và anh dũng hy sinh. Năm 2010, liệt sĩ Chu Cẩm Phong được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND. Anh là một nhà văn đầu tiên được phong tặng danh hiệu anh hùng.

          Cuốn nhật ký cuối cùng mà anh đem theo bên mình tưởng bị mất trong chiến tranh đã được một sĩ quan quân đội Sài Gòn trân trọng gìn giữ. Sau ngày miền Nam giải phóng viên sĩ quan này đã trao lại cho các bạn của nhà văn. Cuốn “Nhật ký chiến tranh” của Chu Cẩm Phong được nhận tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam.

                                                             Tin và ảnh Trọng Bảo

Truyện ngắn Phía sau vở diễn

trongcuong | 04 April, 2011 11:03

                            

Phía sau vở diễn

Truyện ngắn của Trọng Bảo

          Anh Hoà kể:

          Đơn vị xe tăng của chúng tôi đóng quân ở một vùng trung du biếc xanh rừng cọ, đồi chè, bên bờ một con sông nho nhỏ.

          Ngày ngày những chiếc xe tăng rầm rập trườn lên sườn đồi tập luyện. Cái nắng như nung vùng trung du cộng thêm cái nóng trong xe khiến cánh lính trẻ chúng tôi mất dần nước da của thuở học trò. Luyện tập vất vả nhưng chúng tôi vẫn sống vô tư, vui vẻ. Sau những buổi hành quân, những ngày vật lộn cùng chiếc xe tăng trên đồi, trong doanh trại của chúng tôi vẫn rộn vang tiếng hát, lời ca trong sáng.

          Đội văn nghệ của tiểu đoàn được thành lập. Tôi và cậu Hiển-pháo thủ trên xe tăng, do có chút năng khiếu nên được cử tham gia đội văn nghệ xung kích. Anh Thao, bí thư chi đoàn được cử làm đội trưởng đội văn nghệ. Sau một buổi tập hát, anh Thao bảo tôi:

          - Cậu viết một vở kịch cho đội văn nghệ tập nhé!

          Tôi giãy nảy lên:

          - Ấy chết! Em làm sao mà viết được kịch bản hả anh!

          - Nghe nói hồi học cấp 3, cậu đã đoạt giải nhì học sinh giỏi môn văn toàn tỉnh cơ mà?

          - Nhưng...

          - Không nhưng gì cả! Cậu cứ viết đi rồi anh em góp ý thêm. Đề tài kịch bản khối đấy. Nào là huấn luyện, kỷ luật, sẵn sàng chiến đấu... À! Mà này, cậu nên viết về mối tình quân dân là hay nhất. Đơn vị ta đóng quân ở miền quê trung du, được bà con tin yêu, giúp đỡ rất nhiều. Có một vở kịch ngắn nói về mối quan hệ quân dân để mỗi khi liên hoan văn nghệ chung với địa phương mà biểu diễn thì hay quá.

          Thế là tôi trở thành một nhà "kịch sĩ" bất đắc dĩ.

          Việc đầu tiên của tôi là lên thư viện đơn vị tìm mượn các tập kịch đem về nghiên cứu, xem các nhà viết kịch họ dựng cảnh, bố trí lớp lang, xây dựng nhân vật thế nào để bắt chước. Còn nội dung vở kịch thì tôi kể về một câu chuyện đã xảy ra ở đơn vị. Đó là chuyện một chiến sĩ là thợ sửa chữa xe tăng trên đường đi công tác xa đơn vị gặp một chiếc máy cày của hợp tác xã dịch vụ bị hỏng nằm giữa cánh đồng. Vốn thành thạo máy móc, anh liền ra tay sửa chữa giúp. Lúc sửa xong thì đã quá giờ quy định phải có mặt ở đơn vị. Anh về đến doanh trại thì đơn vị đã hành quân đi diễn tập. Sau lần ấy, anh bị kiểm điểm nghiêm khắc. Khi đơn vị đang tổ chức họp phê bình thì ông chủ nhiệm hợp tác xã và cô con gái lái máy cày đem quà đến cảm ơn đơn vị, cảm ơn người chiến sĩ đã giúp hợp tác xã chữa chiếc máy cày kịp làm đất cho bà con cấy đúng thời vụ. Lúc này mọi người trong đơn vị mới vỡ lẽ, đề nghị không kỷ luật anh chiến sĩ đó nữa. Nhưng anh vẫn xin nhận khuyết điểm. Bởi anh cho rằng: "Nhiệm vụ chiến đấu là trên hết, người chiến sĩ không vì bất cứ lý do gì để ảnh hưởng đến nhiệm vụ". Tên vở kịch tôi đã đặt là "Một lần chậm trễ".

          Khi nghe tôi trình bày xong nội dung vở kịch, anh Thao vỗ mạnh vào vai tôi bảo:

          - Khá lắm! Nhà viết kịch nghiệp dư thế mà khá. Nhưng trong cốt truyện phải cần tăng thêm kịch tính mới hấp dẫn được người xem.

          Thế rồi mỗi người thêm một ý, vở kịch của tôi hoàn tất. Đến phần phân vai, anh Thao nói:

          - Tớ sẽ là đạo diễn kiêm vai ông chủ nhiệm hợp tác xã dịch vụ. Cậu Hoà đảm nhiệm vai chiến sĩ sửa chữa xe tăng. Cậu Hiển đẹp trai đóng giả con gái trong vai cô gái lái máy cày.

          Hiển giảy nảy lên như đỉa phải vôi nhưng rồi vẫn phải nhận vai. Nó phàn nàn với tôi:

          - Hay là ông sửa béng kịch bản đi. Người lái máy cày là nam giới không được à?

          Tôi cãi:

          - Phải có nam, có nữ vở kịch mới hấp dẫn chứ.

          Nhưng mới tập được một buổi thì anh Thao tuyên bố:

          - Cô Hằng, phó bí thư chi đoàn thôn Hạ, đơn vị kết nghĩa với chi đoàn đại đội 2 đã nhận đóng vai cô gái lái máy cày.

          Hiển mừng quá nhảy cẩng lên, giật luôn bộ tóc giả khỏi đầu, cười tít cả mắt.

          Từ hôm đó, buổi tối nào Hằng cũng vào đơn vị tập chung với đội kịch của chúng tôi. Phải công nhận Hằng là cô gái thông minh. Cô nhập vai khá nhanh, nhiều chỗ biểu hiện hành động, tâm lý đúng là của con gái mà khi viết tôi không thể hiện được. Còn anh Thao thì khỏi phải nói. Anh vừa là đạo diển, vừa vào vai ông chủ nhiệm hợp tác xã khá đạt. Nhất là cái đoạn khi chữa được máy cày, ông chủ nhiệm xắn ống thấp, ống cao chạy về làng hò hét mổ hợn để chiêu đãi anh bộ đội xe tăng, nhưng khi cỗ bàn làm xong thì anh đã đi rồi, lần nào diễn thử chúng tôi cũng cười chảy cả nước mắt.

           Một hôm, khi chúng tôi đang tập thì đại tá lữ đoàn trưởng xuống ngồi xem chúng tôi diễn thử. Xem xong, ông bắt tay từng người và nói:

          - Vở kịch hay lắm! Có ý nghĩa sâu sắc. Các cậu cố gắng tập cho thật nhuần nhuyễn để biểu diễn trong dịp sơ kết giai đoạn huấn luyện I và trong hội nghị "Quân dân một ý chí". Tôi sẽ bảo cơ quan chính trị lữ đoàn cử người xuống giúp hoàn thiện, nâng cao vở kịch này.

          Nghe lữ đoàn trưởng nói vậy, chúng tôi rất phấn khởi. Mọi người bàn nhau phải cố gắng tập luyện tốt hơn để kết thúc huấn luyện đầu tiên sẽ biểu diễn ra mắt toàn tiểu đoàn trước khi đi biểu diễn ở lữ đoàn.

*

          Đêm biểu diễn ra mắt vở kịch "Một lần chậm trể" trước toàn tiểu đoàn được chúng tôi chuẩn bị khá công phu. Sân khấu dựng giữa sân, đủ phông màn, cảnh trí. Tuy "cây nhà lá vườn" nhưng cả đơn vị ai cũng thích. Phần đầu buổi văn nghệ là những bài hát, bài thơ về người chiến sĩ xe tăng dũng cảm, kiên cường. Vở kịch được xếp cuối chương trình. Ai cũng hồi hộp bởi đây là công lao bao ngày vất vả vừa luyện tập trên thao trường, vừa luyện tập trên sàn diễn.

          Giữa lúc ấy thì Hiển bỗng kéo tay tôi vẻ lo lắng nói:

          - Hoà ơi! Đến bây giờ vẫn chưa thấy cô Hằng đâu cả!

          - Thế hả!

Tôi cũng giật mình. Từ chập tối đền giờ mải lo phông màn, điện đóm nên tôi cũng không để ý. Cứ nghĩ cô ấy đã đến và đang ngồi trang điểm ở đâu đó. Tôi hỏi:

          - Thế anh Thao đâu rồi?

          - Anh ấy đã đi tìm cô Hằng rồi.

          Hiển vừa nói xong thi anh Thao vào. Nét mặt anh có vẻ buồn. Anh bảo:

          - Cứ tiếp tục biểu diễn. Cậu Hiển thay cô Hằng vào vai cô gái lái máy cày. Cậu còn nhớ lời thoại không?

          - Cũng nhớ lõm bõm nên phải có người nhắc. Nhưng... lấy đâu ra quần áo và các đồ ... "phụ tùng" của con gái bây giờ.

          - Xuống mượn cô Mai nhà bếp. Cô ấy có mấy bộ quần áo thường phục đấy!

Tôi gợi ý. Hiển giảy nảy:

          - Cô ấy to như cái thùng phi thế tao mặc thế nào được?

          - Cứ mặc thử xem, nếu không thì biết tìm đâu ra bây giờ. Nhanh lên, sắp đến lượt ông phải ra sân khấu đấy.

          Hiển vội vã chạy đi.

          Lúc cậu ta xuất hiện trên sân khấu với bộ quần áo con gái rộng thùng thình, ăn nói thì ấp a, ấp úng như ngậm hột thị làm cả tiểu đoàn cười ồ lên. Nhưng sau đó thì có nhiều tiếng ồn ào, chê bai. Anh Thao những lần tập diễn xuất khá thế mà lên sân khấu cũng gượng quá. Vở diễn kết thúc với những tiếng vỗ tay lẹt đẹt, chiếu lệ, trái với sự mong muốn của chúng tôi. Vở diễn không thành khiến cả đội văn nghệ ai cũng ỉu xìu.

          Sáng hôm sau tiểu đoàn trưởng Tâm họp với đội văn nghệ. Anh nghiêm khắc nhìn chúng tôi nói:

          - Tối hôm qua cô Hằng không đến tham gia biểu diễn, có ai biết lý do vì sao không?

          Mọi người ngơ ngác. Tiểu đoàn trưởng nhìn tôi và Hiển nói:

          - Hai cậu nói cho toàn đội biết trước buổi tập chiến thuật sáng hôm qua đã làm gì để bà con thôn Hạ phải phàn nàn?

          Tôi và Hiển giật mình. Thì ra chuyện là như vậy. Sáng hôm qua, trước giờ tập, chúng tôi tiến hành ngụy trang xe tăng. Lúc qua rừng bạch đàn mới trồng, chúng tôi nhảy xuống bẻ vài cành lá để nguỵ trang xe. Đang làm thì có một cụ già đến ngăn lại:

          - Các chú không được bẻ cành bạch đàn ở đây làm ngụy trang vì cây mới trồng bẻ bị hỏng.

          Khi thấy nhiều cây bạch đàn bị bẻ gãy, cụ già có vẻ giận dữ nói:

          - Các chú khi  luyện tập phải bảo vệ tài sản của dân chứ!

          - Cụ ơi! Chúng con luyện tập cũng để bảo vệ dân đấy ạ!

          Hiển còn cố cãi trước khi nhảy lên xe.

          Chiếc xe tăng rầm rầm lăn xích ra bãi tập.

          Sau khi nghe lại câu chuyện anh Thao nói:

          - Hôm qua cô Hằng đang làm nương gần đó đã chứng kiến hành động không đẹp của các đồng chí. Vì thế, cô ấy đã không đến tham gia buổi diễn nữa. Bởi vì cô ấy làm sao có thể cảm ơn anh bộ đội giúp dân trên trên sân khấu khi ngoài đời họ lại làm ngược lại như vậy.

          Tôi và Hiển cúi đầu ân hận về việc làm của mình.

          Tiểu đoàn trưởng Tâm kết luận:

          - Việc này các đồng chí phải nghiêm khắc kiểm điểm. Rồi phải cùng chỉ huy đơn vị vào thôn Hạ xin lỗi nhân dân. Chỗ nào cây cối bị phá hỏng phải trồng lại cho dân. Trên sân khấu ta diễn vở kịch giúp đỡ nhân dân, ngoài đời mà làm ngược lại thì thử hỏi diễn mà làm gì, có tác dụng gì nữa. Bảo vệ dân, giúp đỡ dân không chỉ là đóng kịch trên sân khẩu mà nó là bản chất, là truyền thống đẹp của quân đội ta, các cậu luôn luôn phải nhớ ghi điều ấy.

*

          Đó là câu chuyện về "sự tích" vở kịch của tiểu đoàn xe tăng H.

          Năm tháng trôi đi, những người lính xe tăng sống trong tình thương yêu, quý trọng của người dân vùng trung du bởi vì họ đã biết khắc phục những khuyết điểm để đi lên. Qua sự việc này những người lính mới có một bài học trong quãng đời quân ngũ của mình.

          Nghe nói vở kịch "Một lần chậm trễ" của tiểu đoàn H đã giành được giải nhất trong đêm liên hoan văn nghệ quân dân. Và, Hằng - người đóng vai cô lái máy cày đã trở thành cô dâu của đơn vị xe tăng ấy.

                   Vĩnh Phúc, cuối năm 2000 

Truyện ngắn |

Truyện ngắn Dị nhân

trongcuong | 19 March, 2011 20:13

Dị nhân - Truyện ngắn của Trọng Bảo
     
Dị nhân
                Trọng Bảo    
                                                               
     Tên thật của gã là Đồng Thụy Nhân. Hồi còn đi học gã rất mê văn chương, tập tạnh làm thơ, viết truyện, lấy bút danh là Thy Nhân cho có vẻ văn sỹ. Chẳng biết có truyện ngắn, bài thơ nào của gã được đăng ở đâu không. Thỉnh thoảng vẫn thấy gã lôi một cuốn sách chép tay ra đọc có vẻ ngẫm ngợi lắm. Cũng chả biết cái biệt danh Dị Nhân gắn vào đời gã tự bao giờ. Có lẽ là do hình thù kỳ dị của gã. Chân phải đi hơi tập tễnh, cánh tay trái gã sù sì những vết bỏng. Và đặc biệt một vết sẹo dài trên má phải kéo miệng gã méo hẳn đi. Rồi cả cái thị trấn ngoại thành này người ta đều biết gã, đều gọi gã là "Dị nhân”. Song cũng chẳng ai biết gốc gác quê quán gã ở đâu. Chỉ biết gã đến đây để làm thuê cho mấy nhà hàng, gánh nước, rửa bát hay vận chuyển phế liệu xây dựng, đánh vôi, phụ hồ cho đám công nhân xây dựng. Có lẽ tên gã được người ta gắn thêm cho chữ "dị” để phân biệt với một ông Nhân nào đó là giám đốc doanh nghiệp và ông Nhân chủ tịch thị trấn.

    Gã không tự ái, cũng chẳng buồn tranh cãi với những người cứ suốt ngày réo gọi: "Này! Dị Nhân khởi đầu ngày mới làm một chén nút lá chuối cho khí thế!”, hay: "ối! Ngài Dị Nhân, dị dạng gì ơi, chuyển ngay cho tôi mấy thùng hàng ra chợ!” hoặc là: "Tối nay, ông Dị Nhân ngủ trông coi cửa hàng cho cẩn thận nhé!”. Mọi người đối với gã chẳng ra trọng, chẳng ra khinh, chẳng ra ông, chẳng ra thằng. Tuy thế, vẻ kỳ dị của gã nhiều khi cũng được việc. Cái thị trấn ngoài thành có vẻ heo hút này ngày càng phát triển nhiều nhà nghỉ, nhà hàng. Ngày thứ bảy, chủ nhật nhiều ông đưa bồ bịch vút lên đây cho an toàn, vợ con đừng hòng truy xét. Bọn trộm cắp gây án ở nội thành kiếm được tiền cũng rạt ra vùng ngoại ô này ăn uống, xả hơi. Các nhà hàng, quán xá nhờ đó làm ăn được, song cũng lắm phen lao đao bởi các đối tượng phức tạp. Bọn sâu rượu nhậu nhẹt thâu đêm, say xỉn phá phách. Chủ quán thường phải nhờ cậy đến gã. Cái mặt sẹo, cánh tay sù sì cháy sém của gã khiến nhiều kẻ giang hồ cũng phải gườm. Chúng kháo nhau: "Gã này từng là một tay giang hồ hảo hán khét tiếng đấy!”. Tuy vậy, gã lại có vẻ hiền lành. Chả bao giờ thấy gã gây gổ với ai. Duy chỉ có một lần tại nhà hàng thịt chó Tư Béo, một tên ăn quỵt lại còn giở thói côn đồ đập phá. Chẳng may cho nó lúc ấy gã đang chẻ củi thuê phía sau nhà. Bà chủ quán chạy ra cầu cứu. Gã ném con dao chẻ củi xông ra. Chỉ bằng một miếng võ, gã đã khoá ngay tay tên côn đồ. Khi công an đến khám xét thu được trong người nó khẩu súng ngắn đã lên đạn. Cả nhà hàng hú vía. Thì ra đó là một tên tội phạm nguy hiểm. Sau bận ấy dân thị trấn có vẻ nể sợ gã. Họ vẫn gọi gã là Dị Nhân, nhưng giọng có vẻ thân mật hơn, bớt hẳn vẻ gắt gỏng, coi thường.

    Cái phố núi ngoại thành ngày càng phình ra. Dân nội đô đổ xô lên mua đất. Dân bản địa bỗng đổi đời. Có nhà ba đời nghèo kiết xác, lộn đủ hai túi quần, bốn túi áo chả có nổi một trăm ngàn đồng bạc nay bỗng nhiên giàu sụ lên nhờ bán đất. Một góc đồi cây cằn cỗi mà bạc tỷ. Dân mua đất chủ yếu là những người phất lên do cơ chế thị trường, kinh doanh phát đạt hoặc loại người chuyên kiếm chác, bớt xén công quỹ. Họ mua đất làm trang trại, xây nhà, cuối tuần đưa vợ con lên tọa hưởng, tha hồ hít thở không khí trong lành phố núi. Dân thị trấn vừa là chủ, vừa là tớ. Người có đồi, có rừng trở thành chủ đất, hét ra tiền. Kẻ không có đất thì làm thuê, trồng hoa, cắt cỏ, trông coi trang trại, nhà nghỉ cho những ông chủ ở nội thành.

    Trong số người lên "khai hoang” ấy có một ông chủ còn trẻ tuổi. Anh ta mua cả một khoảnh đồi cây, hồ cá rộng để xây dựng một khu trang trại du lịch sinh thái. Ô tô chở vật liệu ùn ùn kéo về. Xi măng, gạch ngói, sắt thép, đá hộc chất ngổn ngang. Chậu cảnh, bon sai kê đặt khắp nơi. Bọn trộm cắp ngứa mắt nhìn đống của để ngay trong tầm tay. Chúng chả ngu gì mà không hành động. Anh chủ trang trại phải lập tức nghĩ đến việc thuê người bảo vệ. Người ta khuyên anh nên tìm gã Dị Nhân. Quả không uổng. Từ ngày gã làm bảo vệ cho khu trang trại du lịch sinh thái Bồng Lai thì không kẻ nào còn dám mò đến trộm cắp. Đám trẻ chăn trâu thường hay lảng vảng nhặt vỏ bao xi măng, thó đoạn sắt vụn hay miếng ván cốp-pa cũng tỏ ra ngoan ngoãn vâng lời gã răm rắp. Mỗi khi nhìn thấy gã đầu tóc bù xù, miệng méo xệch, vận bộ quần áo bộ đội cũ, thắt một cái thắt lưng to bản đeo lủng lẳng một cái lưỡi lê và cái điếu cày nhỏ bằng nhôm có đứa đã vãi cả ra quần. Gã không đánh, không dọa nhưng bọn trẻ cứ sợ. Chẳng riêng gì trẻ con, người lớn bất ngờ gặp gã cũng giật mình tái mặt. Chuyện xảy ra hồi khu trang trại du lịch Bồng Lai mới mở cửa. Khi ấy, khách đến tham quan còn rất ít. Có một đôi trai gái kéo nhau lẻn ra một góc đồi vắng. Khi họ đang say sưa mê đắm thì gã tình cờ đi qua. Đôi trai gái thất kinh khi chợt nhìn thấy gã. Họ rú lên vì tưởng cướp xuất hiện. Cả hai ôm quần áo nồng nỗng từ trên đồi phóng xuống, miệng gào lên ầm ĩ: "Cướp! Cướp!” khiến cả khu trang trại náo loạn. Khi mọi việc vỡ lẽ đám công nhân xây dựng, nhân viên phục vụ tại khu du lịch được một trận cười đến vỡ bụng. Cả tuần liền đám con trai gặp gã đều cười cười nháy mắt: "Lần sau có "phim” hay thế bác nhớ gọi tụi cháu với nhé!” hoặc: "Xem một mình đau tức, ăn một mình cực thân đấy bác ạ!”. Đám con gái gặp gã thì lại cười ré lên. Chắc họ nhớ lại cảnh cô gái vú vê thỗn thện, miệng la thất thanh chạy như điên từ trên đỉnh đồi xuống.

 

    Những ngày đầu khu trang trại du lịch sinh thái Bồng Lai đang hình thành sự hiện diện của gã Dị Nhân là "điềm lành”. Bọn trộm cắp, đám trẻ chăn trâu đỡ dòm dỏ, phá phách. Nhưng khi khu du lịch sinh thái đã xây xong tường bao, có đông người đến tham quan thì gã tự dưng trở thành "điềm gở”. Cái bản mặt sứt sẹo, méo mó của gã khiến du khách thấy ghê ghê, ngài ngại. Sự cố đôi trai gái tưởng gã là kẻ cướp đã khiến chủ khu trang trại phải suy nghĩ. Anh ta cho rằng đã đến lúc phải loại gã ra khỏi "biên chế” những người làm việc tại trang trại nhưng chưa có lý do xác đáng. Đến một bữa gã mải đào hố trồng cây trên đồi để mấy con bò thả rông vào phá mất luống hoa gần cổng thì sự hiện diện của gã ở trang trại đã được định đoạt. Gã được anh chủ mời lên nhận tháng lương cuối cùng và quyết định thôi việc. Gã chẳng buồn, chẳng vui. Có phải là biên chế ăn lương nhà nước đâu mà tiếc. Cuộc đời một kẻ làm thuê mấy khi ấm chỗ. Gã gói ghém vài thứ đồ đạc linh tinh vào tấm võng bạt cũ khoác lên vai. Thế là xong xuôi. Gã quyết định rời bỏ cái thị trấn này để đi làm ăn xa hơn.

*

    Nhét mấy tờ giấy bạc vào cái bao da, gã lững thững men theo bờ hồ nước đi ra phía cổng khu trang trại. Con đường rải đất đồi được lu lèn nhẵn thín. Gã co chân đá cái vỏ lon bia lăn lọc cọc suốt dọc đường. Nhìn theo chiếc vỏ lon bia bắn văng xuống phía hồ nước gã chợt giật mình. Một chiếc cặp sách học sinh màu hồng và đôi dép trẻ con lăn lóc trên bờ cỏ ngay sát mép nước. Gã sực nhớ lúc nãy trên đường vào để nhận lương và quyết định thôi việc còn gặp cu Tít con anh chủ trang trại ở cổng. Nó đang học lớp một. Thằng bé vừa nhìn thấy gã đã reo lên: "Ông Vĩ Nhân ơi!- chỉ riêng thằng bé không gọi gã là Dị Nhân- hôm nay cô giáo cháu ốm, cháu được nghỉ học. Lát nữa ông đưa cháu đi đổ dế nhé!”. Gã chột dạ. Không khéo thằng bé mải bắt chuồn chuồn, vồ châu chấu bị té ngã xuống hồ. Gã ngó nghiêng. Bờ hồ được xả đứng thành. Có vết đất trượt dài xuống nước. Gã vứt ngay cái gói đang khoác trên vai xuống bãi cỏ. Gã luống cuống cởi vội cái thắt lưng to bản lủng lẳng con dao lê và cái điếu cày bằng nhôm ném trên bờ. Chỉ kịp kêu ú ớ kêu: "Có người chết đuối!” rồi gã lao xuống nước. Buổi sáng, nước hồ còn rất lạnh. Gã lặn sâu xuống đáy hồ, hai tay quờ quạng kiếm tìm. Không thấy gì cả. Gã ngoi lên lấy hơi gào thêm vài tiếng kêu cứu rồi lại lặn xuống. Gã đạp chân, khua tay sùng sục như điên dưới đáy hồ đầy rong rêu đến hụt cả hơi.

    Lúc sắp phải ngoi lên để thở thì gã chợt quơ được chân thằng bé. Gã cuống cuồng ôm lấy nó, chân đạp mạnh xuống đáy hồ ngoi vút lên mặt nước. Đã có mấy người chạy đến. Họ xúm lại kéo gã lên bờ. Gã xốc hai chân thằng bé lên vai chạy quanh một vòng cho nó nôn ộc nước ra. Nghe có người bảo nhau chạy về gọi chủ trang trại, gã quát:

    - Không được cho bố mẹ nó ra đây! Mà bảo họ cấm được kêu khóc!

    Gã biết những người bị ngạt nước, ngã cây nếu bố mẹ hoặc người có cùng huyết thống mà đến kêu khóc, thất khiếu sẽ ứa máu ra thì vô phương cứu chữa.

    Gã đặt thằng bé xuống bãi cỏ. Nó bị ngạt lâu và uống nhiêu nước nên nhợt nhạt rũ ra như cọng rau héo. Gã tiến hành hô hấp nhân tạo, xoa ngực, ghé miệng hút đờm rãi cho thằng bé. Nhưng mọi cố gắng của gã hồi lâu vẫn không có kết quả. Trong đám người xúm quanh đứng nhìn gã cấp cứu ai đó thở dài: "Không ổn, hỏng mất rồi!”. Gã quát: "Đốt ngay một ít rơm lấy than nhanh lên!”. Có một cách cứu chữa người bị chết đuối mà gã đọc được trên báo. Trong khi mấy người cuống quýt đốt bó rơm rồi gạt ra cho nhanh nguội thì gã tiếp tục xoa bóp chân tay, hô hấp nhân tạo và dùng miệng hút đờm dãi cho thằng bé. Nó vẫn nằm yên không nhúc nhích. Khi đống than rơm đã nguội, gã đặt thằng bé lên. Gã xoa phủ một lớp than rơm còn ấm lên khắp người nó. Than rơm háo sẽ hút bớt nước qua lỗ chân lông người bị chết đuối. Gã vừa làm vừa quát tháo ra lệnh cho đám người vây quanh hỗ trợ việc cấp cứu. Thấy thằng bé cứ nằm im lặng, thẳng đuột, có người bảo: "Thôi bác ạ!”. Gã gầm lên: "Thôi là thôi thế nào! Tiếp tục xoa bóp cho thằng bé nhanh lên!”.

    Đầu tóc rũ rượi, mặt mày gã Dị Nhân méo xệch, dúm dó. Gã cứ cuống quýt hết ấn ngực thằng bé hô hấp nhân tạo, lại tiếp tục ghé miệng hút đờm dãi, hà hơi, thổi ngạt cho nó. Gã vật vã lồng lộn tựa như một con sư tử già trúng thương bên đứa con bị tử nạn.

    Mọi sự cố gắng của gã dường như vô vọng.

Đám người đứng chôn chân giữa bãi cỏ bất lực lắc đầu nhìn gã. Họ đã không còn hy vọng. Không gian khu trang trại như ngưng lại. Những tiếng thở dài lặng lẽ. Gã áp tai vào ngực thằng bé hồi lâu. Đột nhiên, gã hộc lên một tiếng thật to khiến mấy người giật mình. Hình như gã nghe thấy có tiếng đập nhỏ nhoi rời rạc trong lồng ngực cu Tít. Quả đúng vậy. Sự cố gắng của gã không uổng. Chân tay, mặt mũi thằng bé đã hơi hồng trở lại. Ngón tay nó khẽ động đậy. Đôi môi bợt bạt của nó hơi mấp máy. Rồi thằng bé từ từ mở mắt. Mọi người ồn ào vui mừng. Gã quát:

    - Đưa ngay nó sang bệnh viện cấp cứu!

    Mấy người lập cập ôm thằng bé chạy đi.

    Thằng bé đưa đi rồi, bố mẹ nó mới được đến. Một cô nhân viên định đưa cái cặp sách và đôi dép của thằng bé cho mẹ nó, gã lập tức giật ngay lại. Gã bảo:

    - Bố mẹ không được đụng vào đồ của con! Mà cấm kêu khóc rõ chưa?

    Gã vẫn còn chưa hết lo lắng.

    Đám đông ồn ào bàn tán, mọi người đều thán phục gã Dị Nhân. Một chiếc xe du lịch biển số đỏ rẽ vào trang trại. Bước xuống xe là một vị tướng. Đó là ông nội thằng Tít. Ông đang còn mặc bộ đại lễ phục màu trắng bạc, huân huy chương đeo đầy ngực. Vị tướng chắc đã từng trải qua nhiều trận mạc thế mà lúc này nét mặt vẫn thất sắc. Ông đang dự một buổi gặp mặt bạn chiến đấu ở trạm khách của Bộ Quốc phòng thì nhận được điện thằng cháu đích tôn bị tai nạn. Ông vội vã gọi xe sang ngay khu trang trại sinh thái của anh con trai.

    Mọi người nhao nhao kể lại cho ông tướng nghe chuyện cấp cứu thằng Tít. Ông hỏi:

    - Thế ông Nhân! Ông ấy đâu rồi?

    Lúc này tất cả mới nhớn nhác nhìn quanh. Gã Dị Nhân đi đâu rồi nhỉ! Một cậu thanh niên nhanh nhảu:

    - Cháu vừa thấy bác ấy còn tìm kiếm cái gì ở đây cơ mà?- Ông ấy đã lên ô tô khách đi rồi...

    - Ai đó nói thêm.

    - Cháu tìm thấy cái này ở trong bụi hoa nhài!

    Một người đưa cho ông tướng cái thắt lưng da to bản lủng lẳng con dao lê và chiếc điếu cày bằng nhôm. Đó là những thứ của gã Dị Nhân. Lúc nãy gã đã ném nó trên bờ để lao xuống nước cứu thằng Tít. Gã không tìm thấy nó trước khi bỏ đi. Cầm cái thắt lưng da, ông tướng chợt giật mình khi nhìn thấy chiếc điếu cày nhỏ bằng nhôm. Ông vội dùng vạt áo lau lau chỗ ống điếu két gỉ. Một dòng chữ hiện lên: "QT-1972 Đ.T.N”.

    - Trời ơi anh Nhân! Ông ấy chính là Đồng Thụy Nhân... Ông tướng thốt lên. Cậu thanh niên rụt rè:

    - Mọi người vẫn gọi bác ấy là Dị Nhân…

    - Ông ấy tên là Đồng Thụy Nhân...- Ông tướng xúc động nhắc lại. Ông chỉ vào dòng chữ khắc trên chiếc điếu cày nói:

    - Chiếc điếu cày này làm bằng ống pháo sáng. Dòng chữ khắc trên chiếc điếu chính là "Quảng Trị - 1972- Đồng Thụy Nhân”.

    Ông tướng chưa hết xúc động. Ông bảo:

    - Ông ấy là bạn cùng tiểu đội trinh sát với tôi chiến đấu ở thành cổ Quảng Trị năm bảy hai! Khi tôi bị thương chính ông ấy đã cõng tôi vượt qua bom đạn, hoả lực của địch để chuyển về tuyến sau cấp cứu. Sau này nghe tin ông ấy bị thương nặng, lúc chuyển thương lại bị trúng bom mất tích cứ ngỡ là đã chết, không ngờ ông ấy vẫn còn sống. Mừng quá!

    Ông tướng lập cập mở cái bao da mong tìm được địa chỉ của bạn. Nghe ông giải thích mọi người mới biết cái túi da vuông vuông ấy chính là bao đựng kẹp tiếp đạn của súng CKC. Trong cái bao da chỉ có một gói thuốc lào và mấy tờ giấy bạc. Có một tờ bạc một trăm nghìn đồng mới tinh được lồng trong túi ni-lông dán kín. Cậu thanh niên tìm thấy cái thắt lưng da lúc nãy giải thích:

    - Đây là một trăm nghìn đồng bác ấy được công an thị trấn thưởng kèm theo giấy khen do có thành tích dũng cảm bắt một tên cướp có vũ khí. Bác ấy nói để dành làm phần thưởng đầu năm học mới cho thằng cháu nội học giỏi. Còn hai trăm nghìn đồng này là lương tháng này, sáng nay bác ấy vừa mới lĩnh xong.

    Ông tướng ngạc nhiên:

    - Lương... lương... lương của các cháu ở đây chỉ có hai trăm nghìn đồng một tháng thôi à?

    - Dạ! Không phải ạ! Lương của chúng cháu là ba trăm nghìn một tháng, được nuôi cơm bữa trưa. Tháng nào làm tốt công việc còn được thưởng thêm hai trăm nghìn đồng nữa bác ạ.

    - Thế sao ông Nhân chỉ có hai trăm nghìn đồng?

    Mọi người im lặng. Anh con trai ông giờ mới lên tiếng:

    - Ông ấy để trâu bò vào trang trại phá mất mấy luống hoa nên tháng này bị trừ lương, cắt tiền thưởng...

    - Trừ lương... có ba trăm nghìn đồng mà còn trừ...

    Ông tướng lẩm bẩm. Ông thất vọng nhìn anh con trai. Khi biết ông Nhân còn bị buộc thôi việc thì ông càng buồn hơn. Ông lặng lẽ ra xe. Anh lái xe nổ máy đưa ông sang bệnh viện thăm thằng cháu nội. Cu Tít đã bình phục. Nó đang đòi mẹ cho về để cùng ông Vĩ Nhân đi bắt dế!

    Ông tướng ở chơi với cháu đến cuối chiều thì bảo anh lái xe:

    - Nào ta đi. Sắp tối rồi!

    Anh lái xe định cho xe rẽ về hướng trung tâm thành phố thì ông bảo:

    - Lên đường cao tốc! Ta qua Bắc Ninh.

    - Thủ trưởng định đi đâu ạ?

    - Ta về quê ông Nhân!

    - Nhưng bác ấy có về quê đâu! Lúc nãy mấy cậu ở trang trại nói bác ấy đã đi xe ngược Thái Nguyên để lên vùng Bắc Cạn đào đãi vàng cơ mà.

    - Ta sang Bắc Ninh tìm nhà ông ấy!

    - Thủ trưởng có địa chỉ bác ấy rồi ạ?

    - Chưa! Chỉ còn nhớ mang máng! Hình như quê ông ấy ở Quế Võ, Bắc Ninh...

    - Thế thì tìm làm sao được ạ?

    - Ta cứ về Bắc Ninh, tối nay nghỉ ở thị đội, mai đi Quế Võ, đến hội cựu chiến binh huyện hỏi thăm, may đâu họ có danh sách, địa chỉ...

    Chiếc ô tô lên đến đường cao tốc Nội Bài - Phả Lại thì trời đã tối hẳn. Những ngôi sao lấp lánh phía chân trời xa thẳm. Ông tướng thò tay vào túi áo. Những ngón tay của ông như phải bỏng khi chợt chạm vào tờ giấy bạc của người bạn chiến đấu năm xưa...

                                                            Hà Nội 9-2005

Trọng Bảo

© Tác giả giữ bản quyền.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội ngày 19.03.2011

Xin Vui Lòng Ghi Rõ Nguồn vandanviet.net Khi Trích Đăng Lại.

Truyện ngắn THANH MINH

trongcuong | 04 March, 2011 14:02

         Thanh minh

                   Truyện ngắn của Trọng Bảo
                
                                             
                  Thanh minh trong tiết tháng ba/
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.  
                                                                         (Truyện Kiều)
  

         quê tôi người ta thường đi tảo mộ vào những ngày trước Tết nguyên đán. Sau lễ cúng cung tiễn ông Táo về trời ngày hai ba tháng Chạp, nhà nhà bắt đầu quét tước bàn thờ, lau chùi bàn ghế, nhà cửa, chuẩn bị đón năm mới. Cũng là lúc người ta vác cuốc, cầm hương nhang ra đồng tảo mộ, mời các cụ kỵ, ông bà, ông vải về ăn Tết. Ngày trước, quê tôi chưa có quy hoạch khu nghĩa địa, mồ mả thường tuỳ tiện chôn giữa cánh đồng. Thửa ruộng nào cũng có dăm, ba cái mộ. Khi cải táng, lỗ huyệt cũ lấp đi, đất hẩu, lúa cấy tốt vọt hẳn lên toàn lá là lá, bông lốp, chẳng thu được hạt thóc nào. Mồ mả cải táng cũng cứ giữa đồng mà chôn. Lúc lúa chín, cánh đồng vàng rực. Sau vụ gặt, cả cánh đồng lô nhô những mộ là mộ. Ngày trước quê tôi nghèo lắm, mồ mả chỉ đắp bằng đất lại chẳng có bia ghi tên tuổi của người quá cố như bây giờ. 

       
       Bố tôi thường hay sai tôi đi tảo mộ, mời ông bà, ông vải về nhà ăn Tết. Ông dặn tôi đồng trên, cánh dưới có mấy cái mộ phải đắp, nằm ở những thửa nào, góc nào của từng thửa ấy. Tôi “vâng, vâng, dạ, dạ” làm ra bộ đã nhớ rõ rồi nhưng thực ra thì chỉ láng máng.   
      
Tôi ra cây rơm cạnh chuồng trâu, thục tay vào sâu bên trong rút những sợi khô nỏ bện một cái nọn rơm dài để giữ lửa. Rút một thẻ hương trên bàn thờ, tôi vác cái cuốc đi ra cổng. Thằng em út lấp ló ở cửa bếp nài nỉ:   
      - Anh cho em đi với nhé!
  
      - Hừ... hừ... đi theo mỏi chân, vấp ngã cấm khóc! Hiểu không?
    
      - Vâng ạ! - Nó gật đầu lia lịa. Tôi giao cho nó cầm cái nọn rơm đang cháy ngun ngún, khói mù mịt. Thằng em tôi mặt mũi hớn hở. Nó sướng rơn cầm cái nọn rơm quay vù vù rồi chạy trước. Chiều đông, trời u ám. Ngoài đồng lập loè ánh lửa, phảng phất mùi hương nhang.
   
        Đến đồng Chằm, tôi dừng chân ở thửa ruộng chéo góc của bà Cần. Đấy có ngôi mộ của ông nội. Trước ở thửa này chỉ có ba ngôi mộ, ai mới để thêm một cái nữa. Tôi không nhớ ngôi nào là mộ của ông nội, ngôi nào là của người khác. Tôi hỏi thằng em:
     
      - Lúc nãy bố bảo ngôi thứ mấy nhỉ?
   
      - Em... em không biết ạ!
   
      - Sao lại không biết? - Tôi quát: - Lúc bố dặn, mày cũng ở đấy cơ mà!
  
      - Nhưng em... em quên mất rồi... - Nó mếu máo chực bật khóc. Tôi bảo:
  
      - Thôi được rồi! Mày châm luôn bốn nén hương đi.
   
      Trong khi thằng em phùng mồm thổi cái nọn rơm lấy lửa thì tôi cuốc bốn tảng đất to đặt lên bốn ngôi mộ. Tôi bảo nó mỗi ngôi mộ cắm một nén hương. Nó thắc mắc:
  
      - Nhưng... đâu phải tất cả là mộ của nhà mình?
    
      - Ngốc! Cứ cắm hương lên cả bốn ngôi mộ, nhầm còn hơn không. Tao khấn các cụ rồi!
  
      - Anh khấn như thế... nào ạ?
      - Thì khấn: “Năm hết, Tết đến! Các cụ ở nhà nào thì cứ về đúng nhà nấy mà ăn cỗ”.
      - Thế thì không còn phải lo các cụ về nhầm nhà anh nhỉ?
       Thằng em nói vẻ rất yên tâm. Tôi suýt bật cười vì sự ngây thơ, cả tin của nó.   
       Đến cánh đồng Riềng có mộ bà nội và cô ruột tôi cũng làm như thế. Thằng em vừa cắm hương lên mộ vừa mải chộp những con cào cào, châu chấu vặt cẳng nhét vào túi áo đem về làm thức ăn cho con sáo đá của nó. Làm xong công việc tảo mộ thì đã xế chiều, tôi bảo thằng em chạy về nhà trước. Đoạn, tôi tạt vào một ngôi nhà nhỏ bên đầm nước cuối làng.
   
       Lão Thống, chủ nhà đang ngồi phệt ngoài thềm. Thấy tôi đến, lão tợp nốt ngụm rượu rồi đặt “cạch” cái chén xuống nền gạch phủi quần đứng dậy. Gần như đã thành lệ năm nào gần Tết, lão cũng dặn tôi đến cùng đi tảo mộ. Tôi thích đi tảo mộ với lão, phần vì tò mò muốn nghe những chuyện lão kể, phần vì mỗi lần đi tảo mộ, bao giờ lão cũng đem theo đồ cúng. Đó là một xâu bánh gai, một mo cơm nếp trong có một cái đùi gà. Sau khi cúng xong, lão thường cho tôi cái đùi gà và mấy cái bánh gai.
   
       Tôi theo lão Thống trèo qua đê ra phía sông Phó Đáy. Lão Thống chúi đầu đi lùi lũi qua bãi bồi. Tôi phải chạy gằn mới kịp. Đến cây gạo già giữa bãi, lão bỗng khựng lại. Tôi suýt đâm sầm vào cái cuốc lão đang vác trên vai. Lão lầm rầm trong miệng câu gì, tôi không nghe rõ. Cây gạo già mùa đông rụng tiệt lá khẳng khiu như một bộ xương khô. Bọn trẻ con trong xóm thường kháo nhau vào những đêm trăng sáng mờ mờ vẫn nhìn thấy có bóng hai con ma mặc áo trắng toát ngồi trên ngọn cây kêu khóc nỉ non. Một cơn gió bấc ào đến, khiến tôi thấy lành lạnh sau lưng. Tôi rùng mình đi sát vào lão Thống, trong lòng cảm thấy hơi sờ sợ. Bãi sông cuối chiều vắng người.
Tôi và lão Thống lội qua dòng nước sang bên kia sông.   

       Sông Phó Đáy mùa đông rất cạn. Người ta lại thường đóng các cửa cống  công trình đầu mối thủy lợi lấy nước vào kênh nên sông càng cạn, lội qua chỉ săm sắp bắp chân.   
       Sang sông, vượt qua một đám đất rộng toàn lau sậy, chúng tôi trèo lên cái gò đất nhỏ. ở đó có hai ngôi mộ nằm ở hướng đông, chênh chếch nhìn về phía làng tôi. Tôi đoán đó là mộ của hai vợ chồng, hoặc đôi tình nhân nào đó. Lão Thống bảo tôi dùng dao rựa phạt bỏ những cây cứt lợn mọc lung tung xung quanh, rẫy sạch cỏ, đắp lại những chỗ mộ bị sạt lở. Lão run run mở cái túi lấy ra một miếng ni-lông nhỏ, trải giữa hai ngôi mộ. Lão bày bánh gai, cơm nếp, lấy trong túi ra một chai rượu nhỏ cùng ba cái chén bé xíu. Lão rót rượu ra chén, thắp hương cắm lên hai ngôi mộ. Đoạn lão quỳ xuống lầm rầm khấn vái. Tôi ngồi sát sau lưng lão, dỏng tai lên nghe xem lão khấn khứa những gì. Gió bắc thổi ù ù. Tôi chỉ nghe lõm bõm, tiếng được, tiếng mất. Hình như lão đang khấn gọi hai em, mời dặn họ về nhà lão ăn Tết. Khấn vái xong, lão cầm một chén rượu uống cạn. Hai chén rượu còn lại lão tưới lên hai mộ phần. Trong khi chờ tàn hương nhang, lão Thống lấy tay vốc từng nắm đất vụn đắp thêm lên hai nấm mộ.
  
       Trời sụp tối, gió càng lạnh hơn. Lão Thống bảo tôi thu lễ vật ra về.
    
       Trên đường về tôi gặng hỏi, lão chỉ ậm ừ, chẳng nói thêm một tí gì về gốc tích của hai ngôi mộ ấy cả. Đến đầu làng, lão đưa cho tôi cái đùi gà, gói cơm nếp và mấy cái bánh gai. Tôi chào lão, phóng về nhà, chuẩn bị sẵn sàng đón nhận một trận đòn của ông bố vì tội la cà. Nhưng thấy tôi về, ông chỉ hỏi:
   
      - Lại đi tảo mộ với lão Thống hử?
      - Vâng ạ... - Tôi đáp lại giọng hơi run run. Bố tôi bảo: - Thôi, rửa chân tay vào mà ăn cơm! 
       Bố tôi quay đi. Ông lẩm bẩm như chỉ nói riêng với mình: “Lão ấy thế mà số khổ!”.
Tôi dúi phần quà của lão Thống cho thằng em rồi ra giếng. Lúc ngồi vào mâm cơm, tôi rất muốn hỏi bố về lão Thống và những bí mật của hai ngôi mộ bên kia sông nhưng không dám. Bố tôi và lão Thống tuổi tác xấp xỉ nhau nhưng không chơi thân cũng chẳng thấy khi nào ngồi nói chuyện hay uống rượu cùng nhau. Nhà tôi có cái ao to, thả nhiều cá. Mỗi lần kéo vó, được mớ cá, bố tôi thường chọn một con mè to bảo tôi cầm sang cho lão Thống nấu dấm. Lão Thống cất được nồi rượu nào ngon cũng nhớ gửi cho bố tôi một chai uống thử...    
       Rồi bí mật về hai ngôi mộ bên sông dần dần hé mở.
    
       Ấy là đầu những năm chín mươi. Khi kinh tế khá dần lên, công tác xã hội được quan tâm hơn. Người ta bắt đầu nghĩ đến cần phải làm nhiều hơn việc “đền ơn, đáp nghĩa”, trợ giúp những người có công với cách mạng, người từng tham gia kháng chiến.
   
       Một hôm, tôi đang ngồi chơi ở nhà lão Thống, xem lão vót nan đan lờ bắt cá rô thì anh phó chủ tịch uỷ ban phụ trách văn xã dẫn một người đàn bà lạ đến. Lão Thống bỏ dở công việc, pha nước tiếp khách. Ba người ngồi ngay ở thềm  nói chuyện. Chắp nối những trình bày, đối thoại, tranh luận của họ lại, tôi dần dần hiểu rằng họ đang nói về hai ngôi mộ bên sông. Và, điều bất ngờ hơn là lần đầu tiên tôi biết thêm về cuộc đời xưa kia của lão Thống, một con người lầm lũi, lành hiền, không bà con, họ hàng thân thích, quanh năm lặn lội kiếm ăn ở trong đầm, ngoài bãi.
   
        Mấy chục năm trước, làng tôi nằm trong vùng Tề. Bên kia sông Phó Đáy là vùng tự do. Lão Thống ngày ấy là người chỉ huy đội du kích bí mật làng tôi. Đội du kích phần đông là nữ. Cánh trai làng đua nhau vượt sông sang vùng tự do ra nhập bộ đội chủ lực. Trong đội du kích có một cô gái rất đẹp. Khuôn mặt trái xoan, mái tóc dài, đôi môi mọng đỏ của cô khiến bao chàng trai xao xuyến, tương tư. Mấy thằng lính dại gái ở đồn Và kháo nhau về một mỹ nữ thôn Hoàng Đan kéo nhau đi lùng sục. Bọn chúng sa vào ổ phục kích của du kích. Có thằng thoát chết, vứt cả súng chạy về đến bốt còn hoảng hồn, mặt mày tái dại.
   
       Cô du kích xinh đẹp ấy tên là Thắm. Thắm yêu một anh bộ đội chủ lực quê ở làng bên. Họ biết nhau trong một lần đi hội cướp phết đầu Xuân. Chàng trai mình lấm lem bùn đất, quần áo tả tơi nhưng đã giành phần thắng, cướp được quả phết ấy tên là Đại. Họ yêu nhau từ hội mùa xuân năm ấy. Tình yêu của họ đang mặn thì kháng chiến bùng nổ, Đại vào bộ đội lên chiến khu, Thắm tham gia đội du kích bí mật.
   
       Làng Tề sát vùng tự do nên địch thường càn quét, ruồng bố, Việt gian, gián điệp rình mò suốt ngày đêm, nhưng du kích cũng hoạt động mạnh. Đội du kích của lão Thống suốt đêm quấy nhiễu đồn Và, khiến bọn Pháp và lũ ngụy binh mất ăn, mất ngủ phải co cụm lại trong các lô cốt, thỉnh thoảng lại xổ đạn qua lỗ châu mai ra xung quanh. Đội trưởng Thống mấy lần đề nghị cấp trên nhổ quách cái bốt đầu đê để cho dân yên nhưng chưa được chấp thuận. Việc nhổ bốt, phá tề nằm trong một kế hoạch lớn hơn mà ông bí thư chi bộ dặn phải giữ bí mật tuyệt đối, không được phổ biến cho bất cứ ai trong đội du kích biết.
   
       Giữa lúc ấy thì xảy ra một chuyện.
   
       Vào một đêm tối trời, chàng lính chủ lực nửa đêm lội qua sông Phó Đáy về thăm người yêu. Mãi gần sáng, anh đội trưởng du kích mới biết chuyện. Khi đến nhà Thắm, đội trưởng Thống nghe tiếng hai người đang rúc rích dưới bếp. Mùi cơm nếp thoang thoảng. Đội trưởng Thống đẩy cánh liếp bước vào. Đôi trai gái vội buông nhau ra. Giọng người đội trưởng đội du kích bí mật khẽ rít lên:
   
       - Đồng chí Đại! Chỉ huy đơn vị có cho phép về thăm người yêu không?
  
       - Anh... anh ạ! - Đại ấp úng chào.
       - Có được phép của chỉ huy không?
       Đội trưởng Thống nhắc lại, Đại ấp úng:  
       - Dạ không! Em... em trốn về thăm Thắm ạ!
  
       - Trốn... - Đội trưởng Thống nén giận: - Đồng chí vô kỷ luật thế hả?
  
       Đại im lặng. Thắm giờ mới lập cập lên tiếng van vỉ:
  
       - Chúng em xin anh... Đêm mai anh Đại sẽ trở lại đơn vị anh ạ!
   
       - Không được... - Đội trưởng Thống dịu giọng nhưng vẫn dứt khoát:
       - Cậu phải trở lại bên kia sông ngay đêm nay. Nếu không, tôi sẽ cho du kích bắt cậu dẫn giải trở về đơn vị đấy.
  
       Mặc cho đội uyên ương khóc lóc nài nỉ, thái độ cương quyết của người chỉ huy du kích không thay đổi. Biết không lay chuyển được người đội trưởng, Thắm vội vã gói mo cơm nếp, nhét cái đùi gà vào trong rồi trao cho Đại. Anh lính chủ lực khoác súng cùng người yêu lần ra bãi sông.
  
       Trời đã tang tảng sáng. Đội trưởng Thống vừa vùi giấu khẩu súng vào đống tro bếp thì những tiếng súng ngoài bãi sông chợt rộ lên. Đội trưởng Thống buột miệng thốt lên: “Thôi chết rồi!”. Lôi vội khẩu súng khỏi chỗ cất giấu, ông lên đạn lao ra phía dòng sông. Nhưng tất cả đã muộn. Thắm và Đại đã bị bọn địch bắt.
  
        Tiễn người yêu ra tận mép nước, Thắm quay lại thì lọt vào ổ phục kích của bọn lính đồn. Nghe tiếng súng nổ, đã vượt sang đến bên kia bờ, Đại vội băng qua sông lộn trở lại, nổ súng vào bọn giặc để giải cứu người yêu. Nhưng rồi cả hai đều trúng đạn bị thương và lọt vào tay chúng. Bọn chúng lôi hai người lên chỗ cây gạo giữa bãi sông tra tấn. Chúng nghi Đại là quân chủ lực của Việt Minh nên đánh anh rất dã man hòng tìm hiểu ý định tác chiến của quân ta.
  
       Đội trưởng Thống tìm cách giải thoát cho hai người. Ông lo không chịu nổi tra tấn Đại khai ra thì bại lộ hết kế hoạch chuẩn bị mở chiến dịch trung du của ta. Trong lúc tình hình khẩn trương, bức bách, đội du kích đi đến một quyết định táo bạo. Họ tổ chức tập kích vào đồn Và giữa ban ngày với mục đích làm cho bọn địch ngoài bãi sông hoang mang phải rút chạy, thừa cơ giải thoát cho Thắm và Đại. Nhưng trận tập kích chỉ làm cho bọn địch tốn thêm đạn bắn vung vãi vào làng. Thêm ba du kích bị thương phải rút xuống hầm bí mật. Ngoài bãi sông, bọn địch cũng đã kịp giết chết Thắm và Đại. Chúng treo xác hai người lên cành cây gạo rồi rút chạy.
   
       Đội trưởng du kích tìm cách tiếp cận nơi hai người bị giết. Nhìn thi thể hai hai người treo lủng lẳng trên cành cây, không một mảnh vải che thân, máu còn chảy nhỏ giọt xuống cát mà lòng người đội trưởng du kích quặn lên. Từ trên cái lô cốt đầu đê, bọn địch vẫn điên cuồng xả súng ra bãi sông, những bông hoa gạo rơi xuống lả tả như máu. Mãi đến tối, du kích mới gỡ được Thắm và Đại từ trên cây xuống. Họ đưa hai người sang bên kia sông, chôn cất trên một gò đất, mộ hướng về phía làng. Anh em du kích cũng tìm thấy bọc quần áo và gói cơm nếp của Đại. Đại đã cởi quân phục giấu ở bên kia sông khỏi bị lộ mình là quân chủ lực rồi mới quay lại cứu Thắm. Khi bị địch tra tấn dã man, anh cắn răng chịu đựng, kiên quyết không khai báo.
    
       Sau việc ấy, đội trưởng Thống trở nên lầm lì ít nói.
  
       Có lẽ suốt cuộc đời còn lại, lão luôn tự trách mình quá nghiêm khắc. Lẽ ra, cứ để yên cho Đại ở lại làng, ban ngày rút xuống hầm bí mật, đến đêm trở về đơn vị thì có thể hai người đã không bị chết thê thảm như thế. Nhưng ở làng Tề tai vách, mạch rừng, Đại ở lại lộ ra là quân chủ lực đã về, địch biết đề phòng thì chiến dịch phá Tề, diệt bốt của ta sẽ thêm nhiều tổn thất. Chiến tranh mọi tình huống đều có thể xảy ra, mọi giả thiết đều có thể thế này, hoặc thế khác, duy chỉ có lòng người là day rứt, đau đớn mãi không nguôi.
       Sau ngót năm chục năm, chuyện cũ lại được xới lên khi một người đàn bà lạ vẻ quý phái cùng anh phó chủ tịch xã tìm đến nhà lão Thống. Bà ta chính là em gái út của Đại - người chiến sĩ đơn vị bộ đội chủ lực năm xưa bị địch giết hại trên bãi sông.   
        Lúc tôi xách ấm nước sôi lên nhà thì lão Thống đang nói:
   
       - Không thể được bà ạ! Chú Đại và cô Thắm chết không phải là do đang thực hiện nhiệm vụ thâm nhập vùng Tề trinh sát như trong giấy đề nghị xác minh bà đã viết đâu! Tôi không thể ký xác nhận được.
  
       - Ôi dào! Sao ông nguyên tắc và khắt khe với đồng chí, đồng đội thế? Ai tham gia kháng chiến mà chả có công lao, chết ốm hay hy sinh cũng là vì cách mạng, vì dân, vì nước cả. Đằng này bác Đại nhà tôi rõ ràng là do bọn địch bắn chết cơ mà!
  
       - Nhưng...
  
       - Còn nhưng gì nữa! Ông thấy đấy, bây giờ khối người có tham gia chiến đấu một ngày nào đâu, có tham gia thanh niên xung phong gì đâu. Thế mà họ kê khai tự dựng lên thành tích, vẫn cứ được công nhận là có công, được hưởng chế độ chính sách Nhà nước đấy thôi.
   
        Lão Thống lặng thinh. Bà khách vẫn thao thao:
   
       - Làng tôi có người chẳng công cán gì, đi buôn qua phà, máy bay bắn cụt chân được bộ đội băng bó, đưa vào viện cấp cứu, bây giờ khai là bị thương do vác đạn lên trận địa, thế là trở thành thương binh, tháng tháng vẫn nhận đều đều tiền trợ cấp...
   
        Bà khách uống một ngụm nước, liếc mắt thăm dò thái độ và phản ứng của lão Thống rồi mới nói tiếp:
  
       - Tôi đọc báo thấy ở tỉnh gì đó trong miền Nam, ngụy binh nó còn khai gian lý lịch để trở thành người có công, được cả huân chương nữa đấy.
 
       Đến lúc này thì lão Thống hết chịu nổi. Lão đứng dậy, gằn giọng vẻ bức bối:
   
       - Thế thì... bà... bà… đi mà nhờ lũ ấy nó chứng nhận cho!
  
       Bà khách cũng bật dậy như một cái lò so. Biết không thể thuyết phục được lão Thống, bà ta liền giở mặt. Bà ta lia thia xỉa xói, nhiếc móc lão Thống một hồi bằng những lời lẽ không còn gì là thân thiện và lịch thiệp nữa. Rồi bà ta đùng đùng cầm tờ giấy bước ra ngoài cổng. Anh phó chủ tịch xã lật đật chạy theo.
   
       Chuyện sau đó tôi cũng chẳng rõ thế nào nữa.
  
       Trúng tuyển đại học, tôi về Hà Nội học tập thường là sát ngày tất niên tôi mới đoảng về nhà, sau Tết xong là vội vàng đeo theo vài cái bánh chưng lên trường. Tôi chẳng còn có dịp nào cùng lão Thống đi tảo mộ cuối năm. Ra trường, tôi nhận công tác ở tận trên Tây Bắc. Mãi đến năm ngoái, tôi mới có điều kiện về nghỉ Tết dài dài. Chợt gặp tôi ở đầu đê, lão Thống móm mém bảo:
  
       - Chiều mai rỗi sang ông đi tảo mộ nhé!
   
       - Vâng ạ! Nhất định cháu sẽ sang.
   
       Tôi đáp và nắm bàn tay sần sùi, khô đét, lủng củng những xương của lão Thống. Trong ký ức tôi hiện lên những kỷ niệm tuổi học trò với những nỗi mong chờ mỗi khi Tết đến được đốt pháo, ăn bánh chưng, tranh nhau cái đuôi lợn và nhất là được đi tảo mộ với ông lão Thống ngày tất niên.
  
       Hôm ấy, tôi và lão Thống lại cắt qua cánh bãi sang sông. Đến gốc gạo già, lão Thống dừng lại bảo tôi đốt ba nén hương cắm vào gốc cây. Lão chắp tay đứng lầm rầm khấn vái. Dáng lão liêu xiêu, tay áo nâu sờn rách bay phơ phất. Cây gạo cũng đã già lắm rồi, gốc nó sù sì, thân sùi ra những cái bướu to, những cái cành trụi lá như một bộ xương khô kêu lục cục trong trời chiều gió bấc. Tôi chợt cảm thấy lành lạnh bởi mùi hương trầm thơm quá.
  
       Sang đến bên sông, tôi giật mình ngỡ ngàng. Hai ngôi mộ đã không còn ở trên gò đất nữa. Chỗ hai ngôi mộ chỉ còn là hai hốc đất lõm xuống đầy cỏ dại. Lão Thống bảo:
   
       - Họ đã di dời, quy tập vào nghĩa trang liệt sĩ rồi!
  
       - Thế sao ông vẫn sang đây tảo mộ?
  
       - Sang đây thì mới thắp được cho chúng nó một nén hương chung. Hai đứa bây giờ người về mãi dưới nghĩa trang liệt sĩ của tỉnh, người thì lên tận nghĩa trang liệt sĩ trên huyện, muốn đi tảo mộ cũng chẳng đến được nữa...
   
       Giọng lão Thống vẻ bùi ngùi. Lão bảo tôi chặt cây, phạt cỏ chỗ dấu tích hai ngôi mộ. Đoạn, lão lấy đồ cúng từ trong túi ra. Vẫn đầy đủ các thứ như ngày nào, mo cơm nếp, cái đùi gà và mấy cái bánh gai - những thứ mà trong cái đêm bi thương năm nào người con gái đã trao cho cho người con trai. Lão Thống xòe diêm thắp nến, châm hương. Hai ngọn nến nhỏ run rẩy trong hai hố đất như hai hốc mắt người mù. Lão Thống ngồi bệt xuống đất. Hai tay lão rờ rẫm trên mặt cỏ dường như muốn kiếm tìm lại chút hơi ấm của người đã khuất.
        Đó là lần cuối cùng tôi đi tảo mộ với lão Thống.
        Sau này tôi mới biết mặc dù lão Thống cương quyết không chịu xác nhận Đại và Thắm hy sinh khi đang làm nhiệm vụ mà chỉ khăng khăng nói là chết do vô kỷ luật. Nhưng rồi, họ vẫn làm được đầy đủ thủ tục để đề nghị công nhận liệt sĩ cho hai người. Bà khách hồi nào tôi gặp ở nhà lão Thống sau khi đưa mộ anh ruột về nghĩa trang liệt sĩ tỉnh đã tài trợ cho quê tôi kinh phí để xây một trạm bưu điện văn hoá xã khá đẹp.   
       - Số lão Thống thế mà khổ! - Bố tôi bảo: - Lão ấy đánh giặc thì gan lỳ liều lĩnh, dũng cảm, chết chẳng sợ, từng vật nhau với một thằng Tây dại gái ngoài bãi dâu, bắt sống được nó. Đội du kích do lão chỉ huy đánh thắng nhiều trận, đốt cháy đồn Và, đánh mìn đổ xe cam-nhông chở đầy lính Tây trên quốc lộ số 2. Có trận thắng lớn còn được ghi vào cả sử sách của tỉnh, của huyện. ấy thế mà cải cách ruộng đất, chẳng hiểu vì sao tự dưng lão ấy lại bị quy là quốc dân đảng, là địa chủ, bị truy bức đấu tố, khai trừ khỏi Đảng. Địa chủ gì lão ấy, ba sào ruộng, một con trâu còn phải gán nợ. Sửa sai, khối người được phục hồi nhưng lão ấy thì không. Lão sống đến hết đời vẫn nghèo khổ, không vợ, không con, đói no, đứt bữa nhưng được cái chẳng bao giờ ác tâm, làm hại đến một ai.
  
        Bố tôi cũng thường nhắc mãi một cái ơn đối với lão Thống. Trong một trận Tây càn vào làng bất ngờ. Khi chỉ huy đội du kích rút lui ngang qua nhà tôi tuy tình huống rất gấp, lão vẫn nhớ tháo then chuồng xua hai con trâu của nhà tôi phóng ra bãi nên không bị bọn giặc vào bắn chết. Con trâu là đầu cơ nghiệp. Tài sản duy nhất có giá trị của nhà tôi dạo ấy là hai con trâu ấy, bố tôi vẫn thường vẫn bảo thế.
Bây giờ thì cả lão Thống và bố tôi đều đã là người thiên cổ. Cây gạo già nua ngoài bãi cũng không còn nữa. Cái gò đất bên sông, nơi dấu tích hai ngôi mộ cũng đã bị san lấp. Tại nơi ấy, người ta đang xây dựng một nhà máy chuyên chế biến rau quả xuất khẩu.Trước Tết này, thấy tôi cùng thằng cháu chuẩn bị đi tảo mộ, mẹ tôi dặn:   
       - Qua cánh bãi, con nhớ đắp vài hòn đất lên mộ, thắp cho lão Thống một nén hương và nhớ khấn gọi, dặn lão về nhà ta mà ăn Tết, kẻo năm cùng tháng tân, đêm tất niên giao thừa chỉ còn một mình bơ vơ ngoài đồng thì tội lắm!
 
    

 

 

                                                                            Viết cuối năm Đinh Hợi

Một ngày nhận hai tập thơ

trongcuong | 14 January, 2011 17:31

 

Một ngày nhận hai tập thơ

         

Ngày áp Tết Tân Mão-2011, trời rét buốt. Cái lạnh giá kinh khủng len lỏi khắp chốn khiến con người dường như bất lực trước thiên nhiên. Giữa cùng một ngày rét này, tôi nhận được hai tập thơ của bạn văn gửi tặng. Đó là tập thơ "Khuôn mặt gió" của Nguyễn Thanh Cao (NXB Hội Nhà văn-2010) và tập thơ "Bóng nắng" của Nguyễn Đình Xuân (NXB Công an nhân dân-2010).

          Xin điểm vài câu thơ viết về mùa Xuân của hai tác giả cho bớt cái giá lạnh cuối Đông. Nhà thơ Nguyễn Thanh Cao viết về mùa Xuân là quy luật của đất trời, vạn vật:

          Đông tàn, nắng ấm gió đưa
          Ngàn hoa đua sắc rợp mùa Xuân sang.
                             (Hoa cuối mùa)

          Trong ngày Xuân ấy:

          Thong dong một cõi Ca Trù
          Ngày Xuân đượm màu câu hát
          Đào nương gieo lời khoan nhặt
          Tay giòn nhịp phách thảnh thơi...
                            
(Cõi Xuân ca trù)

          Trong bài "Mong" nhà thơ lại viết:

          Mùa Xuân vừa mới đi qua
          Nắng hè vội vã giăng nhòa bóng mây
          Bao người đợi lá thu bay
          Anh mong sớm rét, heo may Đông về...

          M
ong mùa Đông về để chờ:

          Ấm êm chiếc áo em đan
          Gửi anh chống rét vượt ngàn dặm xa...

          Có lẽ đây là cái rét chờ mong trong tâm tưởng của nàng Bân cổ tích mà nhà thơ cũng ngóng đợi. Nhà thơ Nguyễn Đình Xuân cũng bàn về quy luật của thiên nhiên qua câu thơ:

          Chiều nay nhớ về chiếc lá
          Từng nhuộm đỏ cả mùa đông
          Xuân sang trơ cành gầy guộc
          Thời gian khắc những vòng tròn...
                              (Cây bàng góc phố)
 (Xem tiếp)

Tập truyện ngắn Phong lan đỏ

trongcuong | 05 January, 2011 13:25

    
         
             Bìa Phong lan đỏ
 

Tập truyện ngắn Phong lan đỏ

Tập truyện ngắn Phong lan đỏ của Trọng Bảo do Nhà xuất bản Hà Nội ấn hành 12-2010. Các truyện ngắn đều đã được in trên các báo Văn nghệ trẻ, báo Người Hà Nội, báo Giáo dục & Thời đại, báo QĐND, báo Pháp luật Việt Nam cuối tuần, tạp chí Nhà văn. 
         Tập truyện gồm 20 truyện ngắn:
1- Phong lan đỏ, 2- Cánh chim non, 3- Chim lợn kên ngang trời, 4- Gã làm thuê, 5- Đáy vực (gồm ba phần: Chuyện ma đi đò, Dòng sông-dòng đời, Lòng người thăm thẳm), 6- Đêm sao sa, 7- Nhớ rừng, 8- Mưa lúc tan tầm, 9- Người đưa thư, 10- Chiếc lá trôi sông, 11- Họa văn chương, 12- Dòng sông chảy ngược, 13- Tiếng sáo diều, 14- Chiếc đèn ông sao, 15- Lão Cống, 16- Thầy ơi, 17- Độc hành, 18- Kỷ niệm ngày xanh,19- Thời trai trẻ, 20- Hôm nay trời nhiều gió./.
                                      Hà Nội, 1-2011

                          

Truyện ngắn MƯA LÚC TAN TẦM

trongcuong | 29 December, 2010 08:01


Mưa lúc tan tầm

Truyện ngắn của Trọng Bảo

           Vừa tan tầm thì mưa.

           Cơn mưa đổ xuống sầm sập như trời đang hờn dỗi.

           Đường phố kẹt cứng những người là người. Tất cả cùng chịu trận mưa to. Ai nấy vội vã trùm áo mưa lên người. Dòng người đang trôi trên đường trông đủ loại hình thù, đủ loại màu sắc nhạt nhoà trong mưa. Những chiếc xe ngược xuôi, đan chéo nhau. Ai cũng muốn mau thoát khỏi cơn mưa chiều xối xả. Nhưng dòng người thường chậm hơn dòng nước.

           Khi những hạt mưa đầu tiên ném vào người, vào mặt như sỏi thì Hân vội phanh kít xe lại. Cô bật yên xe. Bàn tay cô quờ vào khoảng rỗng của cốp xe. Buổi sáng, trước lúc đi làm Hân đã quên không bỏ cái áo mưa vào trong cốp. Và cũng sáng nay lần đầu tiên Đoàn - chồng Hân không dắt chiếc xe @ nặng nề của cô ra tận cổng như mọi khi. Thường thường là mỗi sáng Hân đi làm, Đoàn đều nhanh nhẹn dắt chiếc xe ra cho vợ. Rồi anh săm sắm hỏi han, kiểm tra xem Hân đã đem đủ các thứ cần thiết chưa. Nào là túi sách, son phấn, khăn giấy lau mặt, điện thoại di động, chìa khoá nhà và nhất là áo mưa. Trời nắng trang trang anh cũng lo Hân quên áo mưa.

          Thế mà sáng nay, Đoàn không dắt xe ra cửa cho Hân như mọi sáng. Từ tối hôm qua, hai người giận nhau. Nguyên nhân phải kể đến là từ khi cơ quan của Hân xuất hiện một anh chàng kẻng trai, ga lăng. Đó là một tiến sĩ mới tu nghiệp ở nước ngoài về. Hắn tên là Khải được đề bạt là thủ trưởng cơ quan. Việc đầu tiên hắn đề nghị với mọi người trong cơ quan là ngay thứ bảy tuần này tổ chức buổi gặp ra mắt tại khu du lịch Ao Vua. Mọi chi phí xe cộ đi lại, ăn uống, dịch vụ hắn bao tuốt. Hắn còn mở ngoặc thêm là các nhân viên đều được đem theo phu nhân hoặc phu quân. Hắn ta vừa ra khỏi phòng, đám nhân viên nữ đã oà lên choe choé:

          - Ghê quá nhỉ! Định tỏ vẻ anh hùng nhất khoảnh hả.

          - Hắn là con đại gia đấy...

          - Đại gì thì đại, kéo nhau đi cả đống cho hắn biết tay... Mà nhớ mỗi tên phải kèm một xuất ăn theo nữa nhé!

          Đám con gái ngoắc tay nhau. Cánh nhân viên nam cũng hứa sẽ đi đủ cả đôi. Nếu cần sẽ kèm theo một nhóc con nữa cho biết Ao Vua thế nào.

          Hân về nói với chồng chuyện cơ quan. Đoàn gạt phắt đi:

          - Em không nhớ là đã hẹn thứ bảy tuần này về quê thăm mẹ cơ mà!

          Hân cụt hứng nhưng cố vớt vát:

          - Hay mình để tuần sau hẵng về quê đi anh...

          - Không được! Mẹ bảo tuần này về còn sang nhà chú Vĩnh bàn việc xây mộ cho ông nội...

          - Nhưng việc của cơ quan em...

          - Việc gì mà việc. Kéo nhau đi chơi bời thì có. Họp hành gì gì mà ở tận mãi cái nơi chuyên ăn chơi du hí thế!
 (Xem tiếp)

Truyện ngắn Hôm nay trời nhiều gió

trongcuong | 23 December, 2010 11:11

Hôm nay trời nhiều gió

Truyện ngắn của Trọng Bảo

          Hai mẹ con đi chợ từ sớm. Bé Thương được mẹ cho đi chợ thì thích lắm. Lẽ ra hôm nay nó phải đến lớp mẫu giáo. Nhưng cô giáo bị ốm nên nó phải nghỉ học. Không thể để con bé ở nhà một mình, cái ngôi nhà khuất sau làng toàn bọn nghiện hút lảng vảng nên chị đành cho nó cùng ra chợ.

          Mẹ quẩy gánh rau muống đi trước. Con bé lon ton chạy theo sau. Chân nó ngắn nên chốc chốc chị lại phải dừng lại chờ nó. Con bé cố chạy cho kịp để mẹ khỏi phải chờ. Nó biết gánh rau của mẹ nặng lắm. Hôm qua mẹ đã mất cả buổi chiều để hái từng ngọn, bó từng mớ thận cẩn thật. Nó hỏi: "Sao mẹ không lấy liềm cắt cho nhanh ạ!". Chị bảo: "Rau cắt bằng liềm đem ra chợ người ta chê không mua con ạ!". Nó lại hỏi: "Sao thế ạ?". Chị lại phải giải thích cho nó là rau muống dùng liềm cắt cọng rau hay bị vỡ, chẻ ra, ngọn to ngọn nhỏ lẫn lộn, nhiều khi có cả cỏ nên thường rất khó bán. Con bé có vẻ hiểu. Nó thương mẹ lắm. Mới năm tuổi nhưng nó biết mẹ vất vả. Bố đi làm ăn xa, quanh năm đảo về vài luợt. Mọi công việc đồng áng ở nhà đều do một mình mẹ nó đảm đương. Không biết bố làm ăn thế nào nhưng nó thấy có lần mẹ phải vét gần hết cái bồ lúa nhỏ mang ra chợ bán đưa tiền cho bố nó đem đi.
         

               Mẹ và con   

         
Từ nhà ra đến chợ hơn một cây số. Con bé đã mỏi chân lắm rồi. Chị động viên: "Con có mệt không! Cố gắng lên! Lúc về mẹ sẽ không để con phải đi bộ nữa". Con bé gật đầu ra vẻ không mệt để mẹ yên tâm. Đến chợ chị tìm mãi mới có một chỗ trống để đặt gánh xuống. Hai mẹ con ngồi giữa gánh rau muống.
 (Xem tiếp)

"Mưa rơi trên bến" hay mưa trong lòng

trongcuong | 16 December, 2010 22:47

 

*Tôi không phải là người làm thơ, thỉnh thoảng chỉ ngẫu hứng thế thôi. Vậy mà một hôm, qua trang tìm kiếm Google tôi chợt thấy bài thơ "Mùa Xuân đang đến bên thềm" của mình được một cô giáo dạy văn của xứ Huế mộng mơ trích gần như nguyên vẹn để bình trong một bài viết về thơ Xuân. Ngại nhất là mấy câu "thơ thẩn" của mình lại được xếp cạnh những câu thơ của các nhà thơ nổi tiếng viết về mùa Xuân. Hôm nay, tình cờ lại đọc được bài viết của Trần Phượng Đình về bài thơ "Mưa rơi trên bến". Xin được đưa lại bài viết trên blog của mình và chân thành cảm ơn tác giả đã có những nhận xét thật xác đáng về bài thơ. (Trọng Bảo)

          ảnh sông

"Mưa rơi trên bến" hay mưa trong lòng

Thu mà chẳng có mưa, nắng chẳng còn. Không gian lờ đờ nhàn nhạt trôi. Tôi thẫn thờ đọc những gì có trước mặt. Bỗng tôi gặp Trọng Bảo từ một sự quan tâm cuộc sống đời thường, nên tôi tìm đọc anh.

         Thật bất ngờ trước "gia tài" hàng mấy trăm bài viết của anh chưa nói đến tập "Phong Lan Đỏ". Bởi vậy, chỉ dám xem và đọc đọc thôi, lại là lần đầu nên đâu có dám "góp ý" - như tiêu đề trong blogs.

          Tuy nhiên, cùng lướt xem các bức tranh và ảnh (không hiểu sao tôi hay dừng lại ở các bức tranh, ảnh - đặc biệt là tranh vẽ tay), đọc tên các truyện ngắn, truyện vui, dừng lại xem bìa cuốn "Phong Lan Đỏ", đọc tên hai mươi truyện ngắn, nghĩ trong này chắc lắm chuyện hay, qua những tiểu phẩm, tản văn... tôi bất ngờ đứng lại khi bắt gặp tiếng thở dài trong gió...

          Vâng, đúng thế, "bước chân đứng lại lòng toan hững hờ" bởi tôi nghe tiếng thở dài nhẹ lắm. Gió ở triền sông vốn lướt, tiếng thở trong mưa sao không dám buông lòng? Tôi bần thần vậy khi bắt gặp khổ thơ đầu trong bài "Mưa rơi trên bến" của Trọng Bảo. Này nhé:

 Ngày chị sang sông
          Mưa rơi trên bến đò làng Hạ
          Những giọt nước lăn dài trên má
          Hoà lẫn vào nhau
          Mưa thấm ướt áo nâu
          Bến sông vắng, gió thở dài trong gió.

          Ngày nay, ngày cưới chẳng còn thời gian cho cô dâu khóc, nào váy bảy tầng, má phấn môi hồng cho ngày tự do cuối cùng đã quá bận rộn rồi. Còn đây, chị áo nâu kín cổ nén vai tròn, rõ là đám cưới này cũng đã mấy mươi. Ngày xưa bé, lũ chúng tôi thường rình xem cô dâu... khóc. Bởi ông tôi nói rằng: Khóc như  thiếu nữ vu quy, cười như anh khoá hỏng thi về làng - tôi nhớ đại thể vậy. Nhưng ở đây, dòng nước mắt lăn mà không tiếng nấc, lại còn chỉ dám lẫn vào mưa mà thẫm ướt áo nâu. Đây đâu là khóc hạnh phúc. Tôi dám chắc tiếng khóc có thành lời, nhưng nó thầm thì thầm thì rất kẽ đủ cho chị và tác giả cảm nhận cùng nhau.

          "Bến sông vắng" ư? Một đám cưới kia mà, lại là bến sông: nơi tụ họp cũng là nơi giao cắt, người sang bên kia bờ, kẻ ở lại bên ni, mà nói "Bến sông vắng" hẳn tác giả muốn thế để rồi tưởng thế.

          Ngày anh về, vạt mía bãi ngô chẳng nỡ hết xanh. Người chiến binh gập gụi đưa mình, háo hức mà quên đi thương tích. Trong khi anh vục tay vào lòng nước mát để dõi mắt tìm kiếm dấu chân xưa. Cơn gió ngược lật ống quần anh phần phật, lẫn trong niềm vui đón anh về, chia ấm ức cùng anh nỗi mất mát lớn lao nữa đã xẩy ra.

         "Bến sông xưa gió thổi ngược chiều". Chỉ thế thôi mà tôi như  thấy cùng anh là lá cờ te tua bay lật phật. Hào hùng đấy mà bi thương cùng từ đấy. Anh có biết, ngày chị vu quy là một này buồn, ngày anh trở về là một ngày tê tái.

         Thời gian, mưa, chiến tranh, mười lăm năm. Mười lăm năm, mưa trắng chờn vờn bay đã bám đậu dần trên đầu người thiếu phụ

 Chị giấu kín nỗi đau
          Vào những nếp nhăn nơi khoé mắt.

          Tôi như thấy: Muời lăm năm lấy sợi nhớ chị vá trái tim mình, tay lần mũi kim, đêm khuya lắc. Anh ơi, chị đã gói ghém khâu nỗi thương đau đặt tận đáy lòng, rồi mãi một chiều chị mới sang sông...

          Có lẽ điều bi ai của ngày anh về ở khổ thơ thứ hai tác giả đã quên đau, để cuối cùng người chiến binh phải đối mặt. Mười lăm năm đâu là một giấc, cái háo hức cho anh sức sống, cho anh mãi trẻ, cho anh nghị lực để quên đi thương tật, mà giờ đây đến ngã rẽ rồi, dấu chân xưa ấy đã chẳng còn... Chị lấy tim mình vá giấu niềm đau, anh lấy gì để sưởi mùa Đông đã đến? Chiều mùa Thu không mưa, bến sông quê, bãi mía, nương ngô, vẳng lời ru phía bên bồi có gửi qua bên lở...?

         Mười lăm năm và có thể hơn cả hai lần mư­ời lăm năm, đủ để chuyện tình đi vào kỷ niệm, hay nhọc nhằn thời thế mà kết bài thơ chẳng nặng nề. Nhưng lòng tôi nặng màu Thu tím thắt, viết một mạch những ý nghĩ vụt qua, chắc hẳn là những lời vụng mộc. Có lẽ bài thơ đã dẫn tôi quay lại một cõi miền?

         Tôi đọc lại bài thơ. Lại nghĩ rằng, dùng câu chữ chuẩn xác như Trọng Bảo, hẳn anh đã chỉnh sửa mấy lần câu thứ hai trong khổ cuối "Xuống đò gặp một cô bé ngây thơ" và chưa thoả mãn? Trong tôi hiện lên hình ảnh: Gió lùa ngọn tóc xanh nghịch tay nạng gỗ...".

                                                           Hải Phòng,12/12/2010
                                                                        Trần Phượng Đình
  
    


MƯA RƠI TRÊN BẾN - thơ

trongcuong | 13 December, 2010 09:32

      ảnh sông

      Mưa rơi trên bến

       Ngày chị sang sông
       Mưa rơi trên bến đò làng Hạ,
       Những giọt nước lăn dài trên má
       Hoà lẫn vào nhau
       Mưa thấm ướt áo nâu
       Bến sông vắng, gió thở dài trong gió.

       Ngày anh trở về
       Nửa thân mình đu trên nạng gỗ
       Bến sông xưa gió thổi ngược chiều.
       Không gặp lại người yêu
       Anh gặp một dòng sông vẫn trẻ
       Vạt mía, bãi ngô non xanh đến thế!
       Lối mòn xưa đâu dấu chân xưa...

       Trời cũng lại đổ mưa
       Mưa trắng bay trên mái đầu điểm bạc.
       Mười lăm năm chiến trường
       Mười lăm năm xa cách
       Biền biệt đường thư, biền biệt tin nhau.
       Chị giấu kín nỗi đau
       Vào những nếp nhăn nơi khoé mắt
       Ngày được tin anh mất,
       Chị sang sông vào ngõ nhà người...

       Anh trở về, chị đã đi rồi,
       Mười lăm năm ngỡ mình vẫn trẻ.
       Xuống đò gặp một cô bé ngây thơ,
       Ngỡ ngàng anh nhận ra hình bóng chị
       Và chợt hiểu đã đến cuối mùa thu...
       Bến xưa có tiếng hời ru:
       "Sông ơi có tự bao giờ
       Bên bồi, bên lở, đôi bờ cách xa...".

                Bến sông Phó Đáy, 20/10/2010
                                  
TB

Truyện ngắn Học trò cũ

trongcuong | 11 October, 2010 22:25

 

Học trò cũ

Truyện ngắn của Trọng Bảo

          Đón khách xong, hiệu trưởng Thụ đáo vội về phòng riêng vớ lấy cái khăn mặt. Anh chưa kịp lau mồ hôi thì lại có tiếng ông trưởng ban hành chính gọi:

          - Mời thầy hiệu trưởng sang ngay phòng họp, đồng chí phó chủ tịch và các anh trên tỉnh có ý kiến đóng góp xây dựng trường...

          - Vâng... Vâng... tôi sang ngay đây! Bác thưa với các anh ấy uống nước chờ tôi một lát!

          Ném chiếc khăn mặt xuống bàn, chỉnh vội cái ca-vát xộc xệch, hiệu trưởng Thụ lật đật bước sang phòng họp hội đồng nhà trường để nghe ý kiến chỉ đạo của các anh ở trên về. Chả là trường phổ thông cơ sở Hoà Xuân chuẩn bị đón nhận huân chương Lao động hạng 3, nhà trường tổ chức gặp mặt các học sinh cũ đang làm việc ở tỉnh xin ý chỉ đạo và mong được sự trợ giúp. Hơn bốn chục năm rồi, nhiều lớp học sinh đã học tập ở trường này. Tuy là một trường ở vùng quê nghèo khó nhưng có nhiều người học hành đỗ đạt ra phết. Đất nghèo nhưng yêu chữ, hiếu học. Buổi mới lập trường nhà gianh, vách đất. Học sinh tới lớp quần áo vá chằng, vá đụp, tay cầm những cuốn vở quăn góc, rách bìa. Có người còn đem trâu cột ngoài sân trường cho gặm cỏ trước khi vào lớp tập viết. Giáo viên thì cũng chẳng hơn gì, cơm độn sắn, mỳ nắm luộc thế mà vẫn tận tình bám lớp tất cả vì học sinh thân yêu. Mái trường quê lam lũ này đã ấp ủ, nuôi dưỡng bao học trò. Những năm chiến tranh phá hoại, học sinh từ thành phố, thị xã sơ tán về học ở trường khá đông. Nay nhiều người thành đạt giữ những chức vụ quan trọng ở tỉnh và trung ương. Buổi họp chuẩn bị cho hội trường, xe cộ kéo về nườm nượp, cuốn bụi mịt mù. Dân phố núi được một phen ngưỡng mộ. Lớp học sinh hôm nay chắc chắn sẽ phải lấy đó làm điều tự hào, để răn mình phải cố gắng mà vươn lên. Hơn bốn mươi năm qua rồi nhà trường đổi thay, phát triển. Cũng có được một ngôi nhà hai tầng với tám phòng học, còn lại thì vẫn là nhà cấp bốn. Học sinh vẫn phải học hai ca mỗi khi trời mưa bão. Bởi lẽ dãy nhà cấp bốn nắng thì các em có lớp mà mưa thì mất chỗ ngồi học. Đám học trò ướt át rét mướt kéo nhau lên đứng co ro ở hành lang nhà hai tầng.

          Trường phổ thông cơ sở Hoà Xuân được tặng thưởng huân chương Lao động hạng 3 là một sự kiện trọng đại. Hiệu trưởng Thụ cũng bị bất ngờ. Mặc dù anh là người đã chuẩn bị các loại văn bản thành tích để báo cáo lên trên xem xét. Nhưng anh vẫn cho rằng trường mình nhếch nhác, chất lượng đào tạo có tốt nhưng trường lớp úi sùi, cơ sở vật chất dạy học thì còn quá nghèo nàn. So với các trường trong tỉnh thì còn kém thua xa. Nhớ hôm đoàn cán bộ cơ quan thi đua khen thưởng của tỉnh xuống khảo sát, ông trưởng đoàn vặn vẹo anh đến toát mồ hôi. Anh ấp úng, nhiều câu hỏi không trả lời được. Sau bận ấy anh nghĩ trường Hoà Xuân chắc chắn là bị loại khỏi danh sách đề nghị khen thưởng. Không ngờ ông trưởng đoàn kiểm tra ấy khó tính nhưng lại từ tâm. Ông đã nhìn thấy "nhân tố mới", thấy được sự nỗ lực vượt bậc của thầy trò ở một trường nghèo nhất tỉnh.

 (Xem tiếp)

NỖI BUỒN NGÀY ĐẠI LỄ

trongcuong | 06 October, 2010 18:11

             Vụ nổ tại SVD Mỹ Đình
 

Nỗi buồn ngày đại lễ

Khoảng 11giờ 40phút trưa nay (6-10), tại khu vực phía sau khán đài C, sân vận động Quốc gia Mỹ Đình, Từ Liêm, Hà Nội xảy ra cháy và gây nổ 2 container chứa pháo hoa, làm 4 người thiệt mạng và 3 người khác bị thương. Nguyên nhân của vụ cháy nổ được xác định là do sơ xuất trong quá trình vận chuyển.

Số pháo hoa trên do công ty TNHH một thành viên đầu tư thương mại và dịch vụ Quốc tế - INTERSERCO (có trụ sở tại Hà Nội) nhập từ nước ngoài về phục vụ bắn pháo hoa nghệ thuật tại sân vận động Quốc gia Mỹ Đình vào tối ngày 10-10. 

        Vụ nổ tại SVD Mỹ Đình
 

       Ngay khi vụ việc xảy ra, Công an thành phố Hà Nội đã điều 8 xe tổ chức chữa cháy, bảo vệ, khám nghiệm hiện trường, khẩn trương đưa số người bị thương đi cấp cứu và tổ chức điều tra làm rõ. Đây là một tai nạn rủi do đáng tiếc, một nỗi buồn trong những ngày đại lễ.

      
Theo lịch trình của Đại lễ, tối 10-10, Hà Nội  sẽ bắn pháo hoa nghệ thuật tại sân vận động Mỹ Đình. Đây là màn pháo hoa công nghệ cao với nhiều điểm khác biệt. Pháo hoa được nhập từ Italia, Mỹ và Trung Quốc với số lượng 3 container và sẽ được bố trí thành 176 trận địa, thành 5 vòng. Theo kịch bản, 20 phút trình chiếu sẽ tái hiện toàn bộ lịch sử của kinh thành Thăng Long xưa. Màn hình nước cùng nghệ thuật trình diễn pháo hoa, hiệu ứng lửa và tia laze sẽ thể hiện về truyền thuyết Rồng thiêng. Chưa rõ vụ cháy nổ trên có ảnh hưởng đến việc bắn pháo hoa nghệ thuật tại sân vận động Mỹ Đình hay không.
           Cũng trong tối 10-10, Hà Nội còn bắn pháo hoa tầm cao tại 4 điểm là Hồ Gươm (trước Bưu điện Hà Nội và trụ sở báo Hà Nội mới), vườn hoa Lý Tự Trọng bên Hồ Tây, công viên Thống Nhất, hồ Văn Quán. Ngoài ra, 24 điểm được bắn pháo hoa tầm thấp tại trung tâm các quận, huyện.

                                              (TB tổng hợp)

1 2 3  Sau»
Accessible and Valid XHTML 1.0 Strict and CSS
Powered by vnWeblogs.